Đăng trong Tâm lý học thường thức

Năm Lầm Tưởng về Sự Đau Buồn Mà Bạn Có Thể Đã Nghe

Việc bàn luận về sự đau buồn và mất mát vẫn là một trong những điều tối kỵ lớn nhất trong xã hội chúng ta. Hầu hết chúng ta thậm chí còn miễn cưỡng sử dụng từ “chết”, thay vào đó vẫn thích dùng từ nói giảm nói tránh nhẹ nhàng hơn như “qua đời”.

Và liệu ai có thể trách cứ chúng ta? Thật sự thì vốn dĩ chuyện này cũng khó nói, gây ngượng ngùng và thậm chí là đau đớn. Thật không may, sự miễn cưỡng đó có thể tạo ra không gian cho những lầm tưởng về sự đau buồn và mất mát gia tăng, khiến chúng ta khó được phép đau buồn hơn. Vì vậy, đây là năm trong số những lầm tưởng phổ biến nhất về đau buồn, cùng với các sự thật trong thực tế.

Lầm tưởng 1: Đau buồn chỉ là một cảm xúc.

Một trong những quan niệm sai lầm phổ biến nhất về đau buồn là cho rằng đó là một sự cảm nhận. Cho dù đau buồn xảy ra trong một số tình huống đau đớn nhất mà ai cũng có thể hình dung ra, chúng ta thường liên kết nó với chứng trầm cảm. Nhưng đau buồn thực sự là một quá trình bao gồm nhiều cảm xúc, bao gồm cả những cảm xúc được biết trước như buồn bã, cũng như những cảm xúc đáng ngạc nhiên hơn như tức giận, thất vọng, tội lỗi hoặc thậm chí là sốc.

Trong lúc đau buồn, chúng ta cũng thường trải qua những cảm nhận tích cực, chẳng hạn như cảm giác nhẹ nhõm khi người thân yêu của chúng ta hết phải chịu đớn đau. Đôi khi, mọi người cũng có thể cảm thấy tê liệt, giống như chuyện cái chết chưa từng xảy ra. Điều quan trọng cần biết là tất cả những cảm xúc này — ít nhất là ở số lượng đong đếm được — là điều bình thường.

Lầm tưởng 2: Đau buồn là điều tồi tệ.

Khi hầu hết mọi người nghĩ về đau buồn, không có gì tốt đẹp xuất hiện trong tâm trí họ cả. Nhưng các nhà nghiên cứu và tham vấn tin rằng bản thân quá trình đau buồn thực sự là lành mạnh. Đó là bởi vì đau buồn là cơ chế cho phép chúng ta dần dần chấp nhận sự mất mát. Tất cả chúng ta đều biết rằng não của chúng ta cần có thời gian để điều chỉnh để thay đổi. Nếu bạn chuyển đến một ngôi nhà hoặc căn hộ mới, bạn biết rằng có thể mất vài tháng để chúng ta cảm thấy nơi đó có cảm giác như ở “nhà”. Trong thời gian đó, não của chúng ta đang dần thay đổi đường ghi nhớ tạm thời của nó để thích nghi với thực tế mới.

Khi một người thân yêu của chúng ta qua đời, chúng ta có thể mất một khoảng thời gian đáng kể để thích nghi với những gì đã xảy ra, vì chúng ta phải vật lộn với những câu hỏi như: Tôi là ai nếu không có người thân yêu của tôi? Người thân của tôi muốn tôi cảm thấy thế nào? Làm thế nào tôi có thể tôn vinh ký ức về họ một cách tốt nhất? Nhiều chuyên gia về đau buồn tin rằng một trong những chức năng của đau buồn là tạo cơ hội cho chúng ta trả lời những câu hỏi như thế này, cuối cùng cho phép chúng ta tôn vinh ký ức về người thân yêu của mình và đi đến được sự chấp nhận mất mát đó.

Lầm tưởng 3: Càng đau buồn thì càng tốt.

Nếu chúng ta chấp nhận rằng đau buồn có thể tốt cho chúng ta, thì chúng ta cũng dễ kết luận rằng càng đau buồn càng tốt. Ngay cả những nhà tham vấn về đau buồn trong lịch sử cũng đã mắc phải sai lầm này. Được gọi là “giả thuyết hoạt động của tang chế” – grief work hypothesis, các nhà tham vấn thường tin rằng mọi người cần phải mạnh mẽ đối mặt với nỗi đau của họ, giữ tâm trí của họ về sự hiện diện của mất mát càng nhiều càng tốt. Nếu mọi người không tỏ ra đau khổ tột độ sau cái chết của một người thân yêu, thì có lẽ họ đang kìm nén hoặc phủ nhận sự mất mát, điều gì đó có thể trở lại ám ảnh họ sau này.

Bây giờ chúng ta cần biết rằng điều trên không hoàn toàn đúng. Mặc dù một số người tự nhiên đau buồn một cách dữ dội, nhưng những người khác thì không. Cả hai đều có thể khỏe mạnh. Nghiên cứu của nhà tâm lý học George Bonnano của Đại học Columbia cho thấy mọi người đi theo những “quỹ đạo tang chế” – (grief trajectories) khác nhau. Đa số mọi người tuân theo một trong hai quỹ đạo tang chế tương đối lành mạnh. Khoảng 10-20 % người tuân theo cái gọi là “quỹ đạo phục hồi”. Sau khi mất mát, ban đầu họ có thể gặp khó khăn trong hoạt động và cảm xúc đau đớn dữ dội như trầm cảm. Nhưng sau khoảng thời gian vài tháng, họ dần hồi phục và quay trở lại cuộc sống của họ. Đây là quỹ đạo mà hầu hết chúng ta tưởng tượng khi nghe từ “tang chế”.

Nhưng nó không thực sự là quỹ đạo phổ biến nhất. Đó là bởi vì khoảng 50-60% trong số họ trải qua một hành trình đau buồn khác nhau. Được biết đến như một “quỹ đạo sức bật tinh thần”, những cá nhân này có thể duy trì mức độ hoạt động tương đối ổn định, lành mạnh, ngay cả sau khi mất mát ngay sau đó. Mặc dù nhìn từ bên ngoài, họ có thể trông khá “bình thường”, nhưng điều này không có nghĩa là họ phủ nhận. Bên trong, họ vẫn nhớ người thân của mình và vẫn trải qua một số cảm xúc liên quan đến đau buồn đã đề cập trước đó. Bởi vì cả hai quỹ đạo phục hồi và sức bật tinh thần cuối cùng đều cho phép mọi người vượt qua đau buồn để đến một lúc có thể hoạt động lành mạnh, cả hai đều được coi là bình thường.

Lầm tưởng 4: Có một cách đúng đắn để đau buồn.

Một trong những ý tưởng tâm lý được biết đến rộng rãi và được chấp nhận là đau buồn bao gồm năm giai đoạn (five stages of grief) – phủ nhận, giận dữ, mặc cả, trầm cảm và chấp nhận. Tuy nhiên, điều bạn có thể không biết là người tạo ra những giai đoạn này, bác sĩ tâm thần học nổi tiếng Elisabeth Kubler-Ross, ban đầu đã không phát triển chúng để giải thích những gì mọi người trải qua khi mất đi người mình yêu. Thay vào đó, bà  đã phát triển thuyết trên để mô tả quá trình bệnh nhân phải trải qua khi họ đối mặt với căn bệnh nan y của chính mình. Sau đó, các giai đoạn này mới được áp dụng cho bạn bè và thành viên gia đình đau buồn, những người dường như cũng trải qua một quá trình tương tự sau khi mất mát.

Nhưng sự đau buồn hóa ra không đơn giản như vậy. Các nghiên cứu hiện nay cho thấy rằng, mặc dù một số nỗi đau buồn có thể tiến triển qua các giai đoạn này giống như Kubler-Ross đã vạch ra, nhưng nhiều người thì không. Họ có thể bỏ qua các giai đoạn, lặp lại các giai đoạn, hoặc thậm chí trải nghiệm những cảm xúc không được đề cập trong lý thuyết gói gọn trong năm giai đoạn mà quá trình đau buồn có thể trông giống như một tàu lượn siêu tốc của cảm xúc lúc lên lúc xuống. Trên thực tế, không có lý thuyết giai đoạn nào cho đến nay có thể giải thích đầy đủ về cách mọi người đối phó với mất mát. Đau buồn đối với mỗi người và mỗi mất mát là khác nhau, vì vậy điều quan trọng là không ép bản thân phải phù hợp với ý tưởng của người khác về mất mát sẽ như thế nào.

Lầm tưởng 5: Tham vấn đau buồn là có hại.

Cách đây vài năm, các phương tiện truyền thông đã đưa tin về một câu chuyện gây sốc: Nghiên cứu cho thấy việc tham vấn về đau buồn có thể gây hại cho nhiều người. Các nhà nghiên cứu đã thực hiện một quy trình thống kê phức tạp được gọi là siêu phân tích, phân tích dữ liệu tổng hợp được từ một số nghiên cứu điều tra tính hiệu quả của tham vấn đau buồn. Họ đã tìm ra thứ được gọi là Hiệu ứng Suy giảm do Điều trị – Treatment-Induced Deterioration Effect, viết tắt là TIDE.

Mặc dù nghiên cứu chưa bao giờ được công bố trên một tạp chí khoa học nào được phê duyệt và bình phẩm, nhưng các phương tiện truyền thông đã thổi phồng kết quả có vẻ đáng báo động này. Newsweek đã đăng một bài báo có tiêu đề “Hãy thu hẹp lại rủi ro của chính bạn.” Tạp chí Time đã gọi việc tham vấn đau buồn là một “chuyện thần thoại”. Nó thậm chí còn được đề cập trong tập phim “The Chicken and the Leg” của Boston Legal. Kết quả là, những người có thể được hưởng lợi từ tham vấn đau buồn đã từ chối được hỗ trợ.

Nhưng phát hiện của TIDE hóa ra lại là thiếu sót. Theo các kết quả công khai, hai nhà nghiên cứu Dale Larson và William Hoyt đã yêu cầu Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ xem xét lại phát hiện này. Họ đã triệu tập một nhóm gồm hai chuyên gia thống kê và phương pháp, những người sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, kết luận rằng thống kê của nghiên cứu siêu phân tích đó đặc biệt được sử dụng để tạo ra TIDE là có vấn đề và các kết luận đáng ngờ. Kể từ thời điểm đó, không có bằng chứng xác thực nào cho thấy việc tham vấn về đau buồn có hại.

Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là tham vấn về đau buồn có thể không cần thiết đối với hầu hết mọi người. Hãy nghĩ xem: Con người đã phải trải qua bao nhiêu nỗi mất mát kể từ khi loài người chúng ta xuất hiện lần đầu tiên cách đây khoảng 300.000 năm. Nghề tham vấn chỉ tồn tại trong khoảng 100 năm. Phần lớn, đau buồn đã in dấu vào trong não bộ. Ở một mức độ sơ khai nào đó, chúng ta biết làm thế nào để đối diện với điều đó. Ngay cả khi không có sự trợ giúp của chuyên gia, sự đau buồn của hầu hết mọi người sẽ tự nhiên dịu đi theo thời gian. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tham vấn về tang chế không có lợi.

Mặc dù nghiên cứu cho thấy rằng tham vấn về đau buồn dường như không hiệu quả như cho các vấn đề khác, nhưng các nghiên cứu cho thấy rằng khi mọi người chọn tham gia tham vấn vì họ đang gặp khó khăn với đau buồn, sẽ thường luôn có ích. Vì vậy, bạn đừng ngần ngại đến gặp chuyên gia tham vấn về tang chế mất mát. Nếu bạn cảm thấy mình cần được hướng dẫn và hỗ trợ trong quá trình đau buồn, rất có thể bạn sẽ khá hơn khi làm điều đó.

Bất chấp tất cả những điều lầm tưởng, chúng ta một sự thật không thể phủ nhận rằng: Nếu chúng ta chưa từng, thì cuối cùng mỗi người trong chúng ta một lúc nào đó cũng sẽ mất đi những người mà chúng ta yêu quý — từ ông bà cho đến một người bạn thân yêu. Chúng ta mong muốn có một cây đũa thần có thể khiến mọi người sống mãi mãi, nhưng không ai trong chúng ta lại có cây đũa thần đó.

May mắn thay, mặc dù đau buồn có thể là một quá trình đau đớn, nhưng đó có thể đơn giản là liều thuốc mà chúng ta cần để giúp tôn vinh ký ức về người thân yêu, đối mặt với sự mất mát của chúng ta và cuối cùng từng bước một hướng tới một tương lai lành mạnh.

Đó là điều mà nhân loại đã làm từ thời xa xưa. Do đó, không ai trong chúng ta là đơn côi một mình.

Tác giả: Tiến sỹ David B. Feldman, là giáo sư tại khoa Tham vấn Tâm lý tại Đại học Santa Clara.
Lược dịch: AimDee
Hiệu đính: The Uranian

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Những Điều Không Nên Nói Với Phụ Huynh Của Một Đứa Trẻ Có Rối Loạn Tâm Thần

Là một phụ huynh đã trải qua những năm tháng trung học của con, đồng thời còn phải cân bằng cuộc sống với việc chăm sóc cho bệnh của con, tôi muốn chia sẻ một số bình luận đặc biệt có hại mà tôi đã nghe được từ các phụ huynh khác, các thành viên trong gia đình và nhân viên nhà trường. Nếu bạn có nghe thấy bất kỳ điều gì trong số này, tôi hy vọng bạn biết rằng bạn sẵn sàng đứng lên vì con mình. Con trai tôi nói với tôi rằng nếu không có chồng tôi và tôi là cha mẹ, nó sẽ không thể sống sót. Con phụ thuộc vào sự hỗ trợ của chúng tôi không chỉ để vượt qua giai đoạn trung học, mà còn là sự sống còn thực sự của con. Đây chỉ là một số mẫu nhận xét mà những người khác đã nói với chúng tôi trong những năm qua:

“Nó đã đủ lớn để tự chăm sóc bản thân mình.”

Đúng vậy, nếu con không phải đối mặt với tình trạng bệnh tật, con sẽ có khoảng thời gian dễ chịu hơn với những nhiệm vụ chẳng hạn như ghi nhớ những điều ở nhà và theo dõi ngày tháng. Ở trường trung học, thông thường học sinh sẽ gặp nhiều vấn đề với nhiều giáo viên và bài vở, và đối với một đứa trẻ mắc bệnh tâm thần, một số thứ có thể bị làm lơ. Đối với tôi, điều cần làm là tán dương những gì con đang xoay sở được và tôi ước những người khác cũng sẽ nhìn nhận điều đó theo cách đó. Thật khó khăn khi cha mẹ bị đánh giá về sự sẵn lòng giúp đỡ con của mình, dù là việc con bỏ bữa trưa không làm bài tập.

“Nó chỉ cần tập trung thôi.”

Mặc dù các bằng chứng nghiên cứu cho thấy rằng tập trung là một  thử thách lớn, việc sử dụng từ “chỉ” là hạ giá trị. Chúng tôi luôn nghe thấy điều này từ đa số các giáo viên của con ở ngay trước mặt con. Hãy tưởng tượng nếu giáo viên nói với ai đó đang chống nạn rằng “Bạn chỉ cần đi nhanh hơn thôi.” Đây là một nhận xét cực kỳ gây nản lòng, thay vì vậy hãy nói “Chúng ta có thể điều chỉnh bài tập như thế nào để em dễ làm hơn?”

“Nó chỉ cần có động lực hơn. Nó không muốn tốt nghiệp sao? ”

Bằng cách nào đó, mặc dù chứng trầm cảm ở người lớn nhận được nhận biết nhiều hơn thì người ta vẫn cho rằng những thanh thiếu niên ngủ nướng hoặc không làm bài tập về nhà chắc hẳn do lười biếng hoặc nổi loạn. Có những hôm, việc học cả một ngày ở trường là tất cả mà con có thể làm được. Và kỳ vọng chuyện con sẽ phải làm bài tập về nhà hàng giờ liền sau đó không phải lúc nào cũng hợp lý.

Tôi được thông báo rằng con mình không thể học ít tiết hơn nếu muốn được lên lớp. Lựa chọn duy nhất của con là đến trường và sau đó làm bài tập về nhà hàng giờ, hoặc là bỏ luôn tất cả các môn hoặc là học trực tuyến. Con không muốn rút khỏi tất cả các lớp học của mình, nó muốn tốt nghiệp. Và học trực tuyến là một lựa chọn khủng khiếp cho những người bị trầm cảm khi họ cần một vài tương tác xã hội mỗi ngày để tránh thu rút xã hội thêm nữa. Trường học nên cung cấp sự điều chỉnh cho tất cả trẻ em có bệnh tật, kể cả bệnh tâm thần. 

“Ừ thì, nếu đó là cách bạn muốn nuôi dạy con cái …”

Tôi nhấn mạnh rằng các triệu chứng của bệnh trầm cảm là có cơ sở và yêu cầu điều chỉnh các nhiệm vụ ở nhà và trường học không có nghĩa là nuông chiều hoặc khuyến khích sự thiếu trách nhiệm. Đó là sự điều chỉnh tạm thời khi việc chữa lành đang xảy ra, sau đó nhiều nhiệm vụ hơn có thể được thực hiện trở lại. Một khi con có thể nhớ việc tắm rửa, ăn uống thường xuyên và uống thuốc, bạn có thể hy vọng rằng con có thể làm những việc như làm việc nhà. Xin nhắc lại, loại phán xét này không nên đặt cho một đứa trẻ mắc bệnh ung thư hoặc một chẩn đoán khác. Tôi không bao giờ im lặng khi nghe bất kỳ lời nhận xét nào như vậy. Chúng ta phải đẩy lùi nó và lên tiếng vì con cái khi chúng chưa thể tự biện hộ cho mình. Cuối cùng, con trai tôi đã tốt nghiệp thông qua một chương trình thay thế. Tôi khuyến khích tất cả các bậc phụ huynh của các học sinh trung học có bệnh tâm thần không bỏ cuộc! Hãy yêu cầu sự điều chỉnh phù hợp. Con bạn sẽ cảm ơn bạn vào một ngày nào đó.

Nguồn: NAMI
By Karen M. Travis, Ph.D.

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Làm Sao Để Thực Sự Giúp Được Một Vị Thành Niên Muốn Tự Sát (Phần I)

Vào một buổi sáng sớm năm ngoái, Tiến sĩ Daniel Bender, bác sĩ tâm thần tại một đơn vị điều trị nội trú cho trẻ em và thanh thiếu niên ở Pittsburgh đang ngồi trong văn phòng của mình để xem lại số lượng hồ sơ thân chủ của mình. Anh có 12 bệnh nhân, tuổi từ 10 đến 17, một nửa trong số chúng đã được đưa vào bệnh viện vì cố gắng tự sát hoặc đấu tranh với những suy nghĩ về cái chết liên tục. Một số bị rối loạn loạn thần hoặc các vấn đề về hành vi, hầu hết sẽ ở lại bệnh viện trong vài ngày đến vài tuần.

Đến 9 giờ sáng, Bender đến phòng họp để tham gia với nhóm của anh (gồm một điều dưỡng, một nhân viên công tác xã hội và một bác sĩ nội trú) để nghe thông tin cập nhật về bệnh nhân của anh. Hai đồng nghiệp, cũng là bác sĩ tâm thần, đã điều trị cho khoảng 20 bệnh nhân khác. Mặc dù nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần đã tăng lên trong nhiều năm, nhưng chỉ 2/3 số giường được lấp kín chỗ trong đơn vị của Bender tại Bệnh viện Tâm thần Western (một phần của Trung tâm Y tế Đại học Pittsburgh,. U.P.M.C.), giống như nhiều bệnh viện khác, đơn giản là vì thiếu nhân viên để điều trị thêm cho nhiều trẻ em hơn. Rất nhiều y tá, trợ lý và các nhân viên khác đã nghỉ việc kể từ sau đại dịch. Bị quá tải bởi công việc, nghỉ hưu, đang tìm kiếm những công việc được trả lương cao hơn hoặc tìm thấy những nghề nghiệp hoàn toàn khác.

Các ca của Bender ngày hôm đó bao gồm một cậu bé 15 tuổi nói rằng sẽ tự sát sau khi bị cha mẹ điên tiết bắt quả tang cậu đang hút cần sa. Cậu ấy tin chắc rằng cha mẹ ghét mình. “Trẻ em có thể đe dọa và nói hoặc làm những điều điên rồ như vậy, nhưng không phải cha mẹ nào cũng đưa chúng đến bệnh viện,” Bender nói với nhóm và thắc mắc tại sao đứa trẻ được nhập viện. Sau đó, bác sĩ nội trú kể cho Bender nghe nhiều hơn về câu chuyện của cậu bé: Cậu đã không ăn hoặc ngủ được nhiều, đã tự cắt tay (một yếu tố nguy cơ dẫn đến tự sát) và tỏ ra ít quan tâm đến bất cứ điều gì, kể cả bạn bè của mình. Cha mẹ cậu đã tìm cho cậu một nhà trị liệu, người đã đề nghị thử dùng thuốc chống trầm cảm, nhưng cậu ấy đã từ chối; cậu lo lắng rằng thuốc sẽ làm cùn mòn cảm xúc của mình. Trong phiên hội chẩn, khoảng một giờ sau cuộc gặp trong phòng họp, Bender hỏi cậu bé rằng cậu tưởng tượng cuộc sống của mình sẽ như thế nào trong 5 năm tới kể từ bây giờ và cậu trả lời “Tất cả những điều tồi tệ nhất”.

Những đứa trẻ có ý định tự sát bị kẹt trong vòng xoáy của nỗi đau và những người xung quanh chúng thường không biết phải phản ứng thế nào. Một số bác sĩ nhi khoa, cũng như các nhà trị liệu, nhà tham vấn học đường và những người khác thiếu sự đào tạo tốt để có thể giúp một thiếu niên có ý định tự sát và điều này thật sự khiến cha mẹ chúng không biết phải làm gì. Bạn nên đưa con đến bệnh viện vào thời điểm nào? Nếu chúng từ chối đi thì sao? Nếu chúng thực hiện hành vi tự sát, bạn có cân nhắc việc nhập viện nội trú tại một cơ sở nơi mà con mình phải sống trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng không? Bạn có thể làm gì khác để bảo vệ chúng? Làm sao bạn biết chúng sẽ không chết vào lần tự sát tới? Bạn khóa hết tủ thuốc, cất dao dưới bếp hay súng nếu bạn có. Bạn tìm được một nhà trị liệu tốt, nếu bạn may mắn. Nhưng một thiếu niên luôn có thể tìm ra cách để chết. Hệ thống báo động, khóa an toàn hoặc bất kỳ quy tắc bảo vệ nào có thể chống lại được sự nỗ lực để chết của một đứa trẻ đang tuyệt vọng?

Số lượng thanh thiếu niên, đặc biệt là các bé gái, đang tuyệt vọng về cuộc sống của mình đang gia tăng. Theo một cuộc khảo sát của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh được công bố trong năm nay, ba trong số năm bé gái tuổi teen cảm thấy “buồn bã hoặc tuyệt vọng” dai dẳng vào năm 2021, tỷ lệ cao nhất trong một thập kỷ qua. Và gần như cứ ba bé gái thì có một bé nghiêm túc cân nhắc việc tự sát (tỷ lệ này gấp đôi ở bé trai); hơn một trong số 10 bé gái thực sự đã cố gắng tự sát. Mặc dù tỷ lệ tự sát ở các bé trai từ lâu đã cao hơn nhưng cảm giác buồn bã hoặc tuyệt vọng của chúng chưa hề tăng lên nhiều như vậy.

Các ca của Bender ngày hôm đó bao gồm một cô gái tuổi teen nhập viện vài ngày trước, sau khi cố gắng tự sát lần thứ hai bằng cách dùng thuốc quá liều. (Bender không bao giờ tiết lộ tên bệnh nhân của anh ấy cho tôi.) Cha mẹ cô ấy nói với một bác sĩ nội trú tại bệnh viện rằng họ đã bị sốc; những nỗ lực tự sát dường như đến từ sự buồn bã. Nhưng cô gái cho biết cô đã có ý nghĩ tự kết liễu đời mình từ năm lớp 5. Cô ấy nói với bác sĩ rằng một cuộc chia tay với bạn trai là yếu tố thúc đẩy cho lần này. Cha mẹ cô ấy thậm chí còn không biết cô ấy đang trong một mối quan hệ. Hai lần cố tự sát trong một năm khiến cả nhóm bác sĩ lo lắng. Bender và bác sĩ nội trú muốn cô đăng ký tham gia chương trình được gọi là nhập viện bán phần, kéo dài sáu giờ mỗi ngày, năm ngày một tuần và bao gồm trị liệu một một, trị liệu nhóm với các thanh thiếu niên khác và các cuộc hẹn hàng tuần với bác sĩ tâm thần. Sau lần đầu tiên nhập viện khi cố gắng tự sát nhiều tháng trước đó,, nhóm của Bender đã đề xuất chương trình tương tự cho gia đình nhưng cô ấy chưa bao giờ tham gia. Nhân viên công tác xã hội giải thích rằng vì gia đình không có bảo hiểm sức khoẻ nên sẽ phải đăng ký thêm gói hỗ trợ y tế. Họ cũng không có phương tiện để đưa con gái đi điều trị. Bender đề xuất phương pháp trị liệu dựa trên gia đình, trong đó các nhà trị liệu sẽ đến nhà để bắt đầu. “Có kiểu trị liệu gia đình nào mà chúng ta có thể giới thiệu cho cô ấy không? Bởi vì tôi luôn nghe nói là không có cơ hội nào để làm việc với cô ấy,” anh ấy hỏi cả nhóm.

Vài giờ sau, Bender gặp một sinh viên y  năm ba, người đã trò chuyện cùng cô gái. Bender giải thích rằng cô ấy đã kiên quyết được xuất viện: “Cô ấy chỉ có một mục tiêu, đó là được ra ngoài – và anh đang cản đường cô ấy. Chuyện gì thực sự là gốc rễ của điều đó? Anh sẽ không bao giờ có được câu chuyện từ cô ấy. Để ý kỹ hơn đi, anh có để ý lúc tôi đi quanh bàn không? Cô ấy dõi nhìn theo tôi và không hề dám ngồi quay lưng lại với tôi.” Đối với Bender, sự cảnh giác của cô ấy cho thấy một tiền sử có sang chấn. Và điều đó chỉ dẫn đến nhiều câu hỏi hơn: Liệu cha mẹ cô ấy có vấn đề về sức khỏe tâm thần hay sử dụng chất kích thích không? Cô ấy có tiền sử bị lạm dụng tình dục hoặc thể chất không?

Bender nhớ đến một thiếu niên khác đã nhập viện vài tháng trước đó, trong ngày đầu tiên tôi ở cùng anh ta trong đơn vị. Cậu thiếu niên là người nhị nguyên giới và đã đến trung tâm Western Psych nhiều lần, lần gần đây nhất là sau khi dùng thuốc quá liều suýt chết. Người mẹ đang xem xét tìm một cơ sở nội trú điều trị cho những đứa trẻ có ý định tự sát cùng những thứ khác. Vào thời điểm đó, Bender và một nhà tâm thần nhi đã thảo luận về vai trò của mạng xã hội trong việc tạo điều kiện cho thanh thiếu niên hành động theo ý muốn tự sát của chúng. Sau đó, người bạn thú nhận rằng vụ này đã khiến cô ấy thức trắng đêm. “Tôi không biết liệu đi bệnh viện nội trú trong sáu tháng có khác với ở đây trong hai tuần hay không,” cô nói với Bender. “Nhưng tôi hiểu rằng nếu đó là con tôi, tôi cũng muốn đưa chúng vào khu nội trú cho an toàn hơn”.

Bender cũng hiểu điều đó. Anh ấy nói: “Mọi người đều muốn con mình được bao bọc và bảo vệ mọi lúc. Chúng ta có thể ngăn chặn một vụ tự sát bằng cách giữ chúng trong bệnh viện, nhưng có lẽ là chúng ta không thể.” Bender cảnh báo các bậc cha mẹ về những rủi ro khi tách trẻ ra khỏi những người chúng yêu thương, kể cả các thành viên trong gia đình (mặc dù một số trẻ có những rối loạn tâm thần mãn tính, bao gồm cả những trẻ có gia đình rối loạn chức năng nặng nề, có thể cần được chăm sóc đặc biệt hơn khi ở ngoài nhà). Anh ấy nói: “Bạn có thể sẽ làm trầm trọng vấn đề hơn, khiến đứa trẻ ngày càng cảm thấy ít được nhìn thấy hơn, ít được lắng nghe hơn.”

Các chuyên gia không thể dự đoán chắc chắn khi nào ai đó sẽ cố gắng tự sát. Trong một nghiên cứu nổi bật về những người tự sát, một phần ba số người được sàng lọc vào tháng trước khi họ chết phủ nhận họ có ý định tự sát vào thời điểm đó. Tiến sĩ David Brent, bác sĩ tâm thần tại Trường Y thuộc Đại học Pittsburgh và là một trong những chuyên gia hàng đầu của đất nước về tự sát ở tuổi vị thành niên, cho biết: “Chúng tôi không biết liệu họ đã không thành thật hay chuyện muốn chết đã diễn ra nhanh tới mức không trở tay kịp. Ngay cả khi bạn xác định được ai đang có nguy cơ, bạn cũng không thể dự đoán chính xác khi nào họ sẽ thực hiện hành vi rủi ro.” Và việc nhập viện cũng không thể làm nhiều hơn được vì đó là kiểu hỗ trợ ngắn hạn, được thiết kế để giúp trẻ ổn định và sau đó xuất viện, lý tưởng nhất vẫn là điều trị ngoại trú. “Chúng tôi sẽ xuất viện vào cuối tuần tới,” Bender nói với nhóm của mình. Anh ấy chỉ ra rằng cậu thiếu niên dường như có động lực để trở nên tốt hơn. Nhưng anh ấy thừa nhận: “Đó là một sự rủi ro vì chúng có thể tự sát bất cứ lúc nào, và đó cũng là sự giới hạn của nơi này (đơn vị nội trú).”

Bender, giống như rất nhiều bác sĩ nhi khoa và nhân viên sức khỏe tâm thần khác thấy mình đang ở tuyến đầu của cuộc khủng hoảng tuyệt vọng ở thanh thiếu niên, một cuộc khủng hoảng ảnh hưởng đến nhiều bộ phận của hệ thống y tế. Số lượt đến khoa cấp cứu dành cho trẻ em có vấn đề về tâm thần đã tăng trung bình 8% mỗi năm một cách đáng kinh ngạc từ năm 2015 đến năm 2020, các vấn đề liên quan đến tự sát và tự hại vượt xa các lượt nhập viện có các vấn đề sức khỏe tâm thần khác.

Không có đủ nhà trị liệu và bác sĩ tâm thần để đáp ứng đủ nhu cầu này. Hoa Kỳ chỉ có 14 bác sĩ tâm thần trẻ em và vị thành niên cho mỗi 100.000 trẻ em – có nhiều hơn ở khu vực thành thị, ít hơn ở nông thôn và những nơi hẻo lánh – và thời gian chờ để gặp được chúng có thể kéo dài hàng tháng. Các bác sĩ nhi khoa đã phải đối phó bằng cách kê đơn thuốc chống trầm cảm và các loại thuốc điều trị tâm thần khác cho những đứa trẻ có thể phải cần đến sự hỗ trợ bác sĩ tâm thần. Theo Tiến sĩ Abigail Schlesinger, giám đốc tâm thần học lâm sàng của trẻ em và thanh thiếu niên tại U.P.M.C, trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều bác sĩ nhi khoa bắt đầu gọi đến đường dây TiPS của U.P.M.C., (một dịch vụ hỗ trợ cho các đơn vị cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu quyền được hỗ trợ từ bác sĩ tâm thần trẻ em và thanh thiếu niên). Các bác sĩ không chỉ gọi điện để hỏi cách kê đơn thuốc điều trị tâm thần; họ cũng đang tìm kiếm lời khuyên cho những đứa trẻ có vấn đề về sức khỏe tâm thần hoặc đang có ý định tự sát. Họ cần được giúp để đem đến các dịch vụ phù hợp cho trẻ em. Một số cũng thừa nhận họ cảm thấy mất mát khi trẻ tự sát thành công. Họ còn cân nhắc việc giải nghệ.

Bender dấn thân vào lĩnh vực này – ngoài tâm thần học, anh ấy còn được đào tạo về liệu pháp tâm động học, một hình thức trị liệu chuyên sâu bằng trò chuyện – một phần vì anh ấy từng là một thiếu niên mà bạn bè luôn tìm đến để tâm sự, và anh ấy không bao giờ quên rằng cuộc sống có thể trở nên mất kiểm soát như thế nào khi bạn còn là một thiếu niên. Anh ấy muốn một nghề nghiệp cho phép anh ấy giúp đỡ trẻ em nhiều nhất có thể bằng cách kê đơn thuốc và cung cấp trị liệu. Bender, người vẫn mang khuôn mặt trẻ con ở tuổi 35, chải tóc gọn gàng và thích mặc áo sơ mi kẻ sọc (anh không bao giờ mặc áo bác sĩ). Anh ấy là một người hâm mộ phim kinh dị, đồ trang trí văn phòng của anh ấy bao gồm một tấm áp phích từ phim “Halloween” và những bức tượng nhỏ như Pennywise, Người Sói và Stripe từ phim “Gremlins”. Với bệnh nhân của mình (những người không gặp anh tại văn phòng), Bender đóng vai trò là người bạn tâm sự đầy cởi mở và tò mò. Vào thời điểm anh ấy đến gặp một số trẻ, chúng nói với anh như cách anh nói với tôi “quá mệt mỏi rồi” – chán nản với trường học, cha mẹ, tình bạn hết lần này đến lần khác, các mối quan hệ yêu đương, sự thiếu kiểm soát của chúng đối với hầu hết mọi thứ ngoại trừ mạng sống. “Chúng điên, rất điên,” anh nói. Một người đã ném nước táo vào mặt anh; hai cô gái còn đe dọa sẽ giết anh sau khi họ nói rằng họ đã tìm thấy địa chỉ của anh trên internet. Anh kể “Tôi nói với bọn trẻ rằng, hãy cứ ghét tôi đi nếu bạn cần. Tôi mong bạn có thể ghét tôi thay vì phải ghét cha mẹ của mình.”

Mục tiêu của anh ấy là để có thể hiểu được cảm giác khi là chúng chứ không phải tới gặp để nói cho chúng biết cần phải làm gì. Bender đã giành được nhiều giải thưởng về giảng dạy và chăm sóc lâm sàng, anh cho biết: “Khi bạn không thể hiểu được nỗi tuyệt vọng của mình, thì tôi có thể hiểu được.” Không phải cảm giác làm ‘chuyên gia’, mà là cảm giác thực tế về những gì có thể đang diễn ra với bọn trẻ. Tôi có thể giúp chúng cảm thấy được đón nhận và cam kết, hoặc ít nhất sẽ không phản ứng giống như gia đình chúng. Tôi sẽ không hiểu mọi thứ được khi chỉ có như vậy nhưng chúng ta có thể bắt đầu có một cái nhìn rõ hơn về câu chuyện thực sự phía sau là gì, và tôi hy vọng cũng giúp các bậc cha mẹ làm được như vậy.”

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Chúng Ta Có Thể Ngăn Được Việc Tự Sát Không?

Vào tháng 5 năm 2017, Louise quyết định rằng cuộc sống của bà ấy quá khốn khó nên bà sẽ kết thúc nó. Bốn năm trước đó, ba người anh/chị/em ruột và một người em họ đã chết, hai người do bệnh tật, một người do hỏa hoạn và một người bị ngạt thở. Những người bạn thân đã chuyển đi nơi khác sống. Bà cảm thấy cô độc một cách đau đớn và không thể chịu đựng được. Đó là lần thứ tư Louise (tôi đang sử dụng tên đệm để bảo vệ quyền riêng tư của bà ấy) định tự sát và bà quyết tâm làm tới cùng, lúc đó bà ấy đã 68 tuổi.

Bà ấy đã viết một bức thư hướng dẫn về nơi để tìm các tài liệu quan trọng và ai sẽ được thừa kế những gì. Bà đóng gói đồ trang sức và tác phẩm nghệ thuật của mình, gửi từng hộp cho bạn bè và các thành viên gia đình cụ thể. Sau đó, bà vào một nhà nghỉ (vì ngôi nhà nào từng có người tự sát sẽ bị mất giá và bà không muốn nhà của mình bị bán thấp hơn giá thị trường), bà đặt một tấm nhựa lên giường, nằm xuống và uống một lượng thuốc mà bà cho là quá liều so với đơn thuốc cùng rượu sâm panh.

Vài ngày sau, bà tỉnh dậy trong một khu chăm sóc bệnh tâm thần ở Albuquerque. Người giúp việc của nhà nghỉ đã tìm thấy bà ấy. “Tôi rất khó chịu vì tôi đã thất bại,” bà đã kể với tôi như vậy gần đây. Vì thế, bà đã cố gắng cắt cổ tay của mình bằng một chiếc vòng tay mà bà đang đeo – nhưng cũng không thành công.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC), tỷ lệ tự sát đang gia tăng ở Hoa Kỳ kể từ đầu thế kỷ, và hiện là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 10. Nó thường được gọi là cơn khủng hoảng sức khỏe cộng đồng. Và chưa có thế hệ thuốc mới nào được phát triển để điều trị trầm cảm (và sự lan rộng khuynh hướng tự sát) trong khoảng 30 năm kể từ sự ra đời của các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc như Prozac.

Xu hướng này rất có thể là do các nguyên nhân xã hội như thiếu khả năng tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, căng thẳng về kinh tế, sự cô đơn và tuyệt vọng, đại dịch thuốc opioid và các khó khăn đặc thù mà các thị trấn nhỏ của Mỹ phải đối mặt. Đây là những vấn đề nghiêm trọng cần giải pháp lâu dài. Nhưng trong chờ đợi thì lĩnh vực tâm thần học rất cần những phương án điều trị mới cho những bệnh nhân tìm đến với bụng đã uống đầy thuốc.

Giờ đây, các nhà khoa học nghĩ rằng họ có thể đã tìm thấy một loại thuốc – một loại gây mê cũ gọi là ketamine, với liều lượng thấp, có thể ngăn chặn ý định tự sát gần như ngay lập tức.

Trầm cảm đã len lỏi trong gia đình Louise từ lâu. Nó đã làm tất cả anh chị em của bà đau khổ, cả cha mẹ và bà của bà ấy. Prozac đã giúp Louise được một thời gian, nhưng đôi khi cũng mất tác dụng và mất tác dụng hẳn vào cuối những năm 2000. Không có loại thuốc nào khác có thể cải thiện tâm trạng u tối của bà.

Sau khi sự cố gắng tự sát của bà, bác sĩ tâm thần của Louise đề nghị bà thử dùng ketamine. Bà ấy đồng ý và được truyền vào tĩnh mạch. Trong vòng vài giờ, cảm giác hạnh phúc của bà ấy được cải thiện. Bệnh viện cho xuất viện. Trở về nhà, bà phát hiện ra rằng đi chợ không còn là một “nhiệm vụ nặng nề” nữa. Đem xe đi rửa xe cũng không còn là một việc vặt không thể làm được. “Cuộc sống đã tốt hơn,” bà nói.

Việc sử dụng ketamine để điều trị chứng trầm cảm và tự sát đang gây tranh cãi. Nhiều nghiên cứu nhỏ cho thấy rằng nó có nhiều hứa hẹn, nhưng hiện nó chỉ đang được kiểm tra trong các thử nghiệm giả dược với hàng trăm bệnh nhân. Nó cũng phổ biến như những loại thuốc được kiểm soát kĩ khác. Giống như morphine, nó có thể hoạt động trên hệ thống opioid và có thể gây ra cảm giác hưng phấn. Đôi khi những người lạm dụng ketamine biểu lộ ra các triệu chứng nghiêm trọng, bao gồm tổn thương não, ảo giác dai dẳng và tình trạng đau nhức bàng quang được gọi là viêm bóng đái.

Tuy nhiên, nếu được chứng minh là an toàn và hiệu quả với liều lượng nhỏ, ketamine có thể thay đổi cách bác sĩ đối phó với bệnh nhân tự sát và trầm cảm nói chung.

Thuốc dường như giải quyết một vấn đề lâu dài trong cấp cứu tâm thần. Bỏ thuốc an thần và việc kiềm chế thể chất sang một bên, các bác sĩ có một số cách để nhanh chóng ngăn chặn ý tưởng tự sát hoặc ý nghĩ tự sát. Các loại thuốc chống trầm cảm hiện tại có thể mất vài tuần và đôi khi vài tháng để phát huy tác dụng, nếu chúng có tác dụng. Ngược lại, chúng cũng có thể làm tăng tình trạng tự sát ở một số bệnh nhân. Liệu pháp trò chuyện cũng cần thời gian để hỗ trợ (giả sử như vậy). Đây là một thực tế nghiêm trọng: Một số nghiên cứu chỉ ra rằng nguy cơ tự sát đạt đỉnh điểm ngay sau khi bệnh nhân được xuất viện khỏi cơ sở y tế.

Các nhà nghiên cứu tại Yale đã phát hiện ra tiềm năng của ketamine như một loại thuốc chống trầm cảm vào cuối những năm 1990 và các nhà khoa học tại Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia đã xác nhận nó vào giữa những năm 2000. Nhiều nghiên cứu sau đó cho thấy rằng loại thuốc này giúp ích chính xác cho nhóm bệnh nhân trầm cảm – khoảng một phần ba – với những người mà không thứ nào khác có tác dụng. Thuốc này không có tác dụng với tất cả mọi người trong nhóm này, nhưng khi có, nó hữu hiệu trong vài giờ chứ không phải vài tuần.

Khuynh hướng tự sát không hoàn toàn trùng lấp với chứng trầm cảm. Nhiều người cố gắng tự sát không phải vì họ bị trầm cảm lâm sàng mà là do xung động, vì họ đã bị sa thải hoặc họ đã chia tay với bạn trai và bạn gái, hoặc đôi khi họ chỉ quá say. Tôi được biết là những người xuất hiện trong bệnh viện trong tình trạng này – chán nản, tức giận và hoang mang hơn là trầm cảm – được mô tả là “drunkicidal” (tự sát khi say rượu).

Nhiều người sẽ ổn một khi họ còn tỉnh táo. Đối với những người không như vậy thì ketamine sẽ hoạt động hiệu quả độc lập với tác dụng của nó đối với bệnh trầm cảm. Và bởi vì ketamine đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm phê duyệt, các bác sĩ có thể kê đơn ngoài hướng dẫn sử dụng. Có nghĩa là hiện nay không chỉ có một loại thuốc hiện hành có thể giúp điều trị chứng trầm cảm và tự sát mà về mặt lý thuyết, nó còn có sẵn cho bệnh nhân.

Tôi luôn nghĩ về điều này trong thời gian gần đây có hàng loạt vụ tự sát nổi tiếng: đầu bếp Anthony Bourdain, nhà thiết kế Kate Spade, nữ diễn viên Margot Kidder. Ketamine có thể cứu ai trong số họ không? Họ đã biết về ketamine không? Bác sĩ tâm thần của họ có biết về nó không?

Louise nói với tôi: “Nhiều bệnh nhân hơn nên nhận thức được điều này hơn. Đó thực sự là một may mắn.”

Đầu năm nay, tôi đã viết về ketamine và chứng trầm cảm cho tờ Wired, và những bệnh nhân tôi phỏng vấn đã kể với tôi một số phiên bản từ cùng một thứ – rằng ketamine đã thay đổi cuộc sống của họ và trong một số trường hợp, đã cứu cuộc sống của họ.

Ketamine hoạt động khác với các thuốc chống trầm cảm khác. Lý thuyết phổ biến là nó ảnh hưởng đến hệ thống glutamate của não – hiện nay các nhà khoa học nhận ra nó có thể liên quan đến chứng trầm cảm, chứ không phải là con đường serotonin được sử dụng bởi các loại thuốc như Prozac. Nghiên cứu trên động vật cho thấy rằng việc ngăn chặn một phần các thụ thể glutamate nhất định làm tăng độ dẻo của não – khả năng não tạo ra các kết nối thần kinh mới – và điều chỉnh một số bất thường do căng thẳng mãn tính. Những tác động có lợi ở não này, cùng với tốc độ hoạt động của ketamine, đã truyền cảm hứng cho một loạt nghiên cứu. Một số loại thuốc có nguồn gốc từ ketamine hoặc dựa trên cách các nhà khoa học cho rằng nó hoạt động, đang được phát triển. Công ty dược phẩm Janssen đang nghiên cứu một loại thuốc xịt mũi.

Nhưng ketamine có những thứ nhiều người coi là một thiếu sót lớn. Nó có thể tạo ra các phản ứng phụ gây ảo giác và phân ly khi đang được sử dụng. Bệnh nhân có thể cảm thấy như thể họ đã rời khỏi cơ thể của họ hoặc rằng họ đang chết. Louise mô tả trải nghiệm ketamine đầu tiên của cô giống như bức tranh của Picasso “Guernica” – rời rạc và khó chịu. Nhưng các phương pháp điều trị tiếp theo thì “tuyệt vời”, cô ấy nói – đầy hình ảnh của các loài chim, cá và cá voi.

Các câu hỏi cũng vẫn còn về sự an toàn của việc sử dụng lâu dài. Bệnh nhân trầm cảm thường phải quay lại để điều trị “tăng cường” (Louise nhận thấy rằng cô ấy cần được truyền dịch mỗi tháng một lần). Thuốc được coi là an toàn khi dùng một lần, nhưng không ai chắc chắn liều lặp lại có thể ảnh hưởng đến não như thế nào. Và ketamine cũng có thể gây nghiện.

Tuy nhiên, hàng chục phòng khám đã mở trên khắp đất nước cung cấp dịch vụ truyền ketamine như một phương pháp điều trị ngoài kê đơn theo hướng dẫn cho bệnh trầm cảm. Quan điểm tại các phòng khám này khiến dấy lên một lo ngại về việc trục lợi (các phương pháp điều trị của Louise có giá 500 đô la phí phát sinh; hầu hết các công ty bảo hiểm không bao trả ketamine khi nó được kê đơn ngoài hướng dẫn sử dụng) thay vì biết rằng chúng có thể giúp đỡ những bệnh nhân đang tuyệt vọng. Tiến sĩ Jeffrey Lieberman, bác sĩ tâm thần của Trung tâm Y tế Đại học Columbia, nói với trang tin tức chăm sóc sức khỏe STAT rằng một số bệnh nhân có thể “bị lừa”.

Tiến sĩ Samuel Wilkinson, một bác sĩ tâm thần học của Yale, người nghiên cứu ketamine, lo lắng rằng một số người điều hành phòng khám này đã bỏ qua các phương pháp điều trị lâu đời trước đó để thử ketamine. Trường hợp điển hình: Louise đã từ chối liệu pháp điện giật, vì cô nhớ nó đã khiến mẹ và bà của cô trở thành “thây ma sống”. Theo quan điểm của Tiến sĩ Wilkinson, bệnh nhân nên cân nhắc kỹ lưỡng tất cả các khả năng hợp lý khác trước khi chuyển sang dùng ketamine. (Và liệu pháp điện giật, vốn vẫn giữ được danh tiếng khủng khiếp, trên thực tế đã được cải thiện rất nhiều, ông nói.) Ông cũng lo lắng rằng các xung động tự sát của bệnh nhân dường như biến mất sau khi điều trị bằng ketamine, dẫn đến việc xuất viện, nhưng sau đó lại bùng phát trở lại sau khi dừng hoặc giảm dần việc dùng ketamine – điều mà ông đã thấy xảy ra trong bối cảnh nghiên cứu.

Vấn đề sâu hơn ở đây là một trong những nguy cơ của phương pháp điều trị mới vẫn chưa được kiểm tra đầy đủ và có các tác dụng phụ lâu dài không rõ ràng đối với một tình trạng mà triệu chứng chính làsự thôi thúc tự sát.

Tiến sĩ Michael Grunebaum, một bác sĩ tâm thần người Columbia, người nghiên cứu về ketamine, cho rằng loại thuốc này không nên được đưa vào phương pháp điều trị sau cùng. Ông ấy nói với tôi: “Cũng hợp lý khi nó phát triển lên trong kế hoạch điều trị ở phòng cấp cứu và các đơn vị nội trú.” Ông cũng nói thêm “Tuy nhiên nếu các phòng cấp cứu ở khắp mọi nơi bắt đầu cung cấp ketamine, nó có thể tạo ra những vấn đề mới. Như đã xảy ra với opioid, mọi người có thể cho rằng mình muốn tự sát trong khi thực tế là họ đang cố gắng để được “phê”). Sự ủng hộ rõ ràng nhất về ketamine có thể đến từ những người ở tuyến đầu của ngành y: các bác sĩ phòng cấp cứu. Tôi đã gặp Louise thông qua một người bạn là bác sĩ, Lowan Stewart, người làm việc tại phòng cấp cứu ở Santa Fe, N.M., nơi bà ấy nhập viện lần đầu sau khi dùng thuốc quá liều. Anh ta cũng điều trị cho các bệnh nhân tại phòng khám ketamine nơi Louise đã đến sau cùng. Nói chung, quy trình trong phòng cấp cứu trước giờ vốn không bao gồm việc cho bệnh nhân tự sát dùng ketamine và anh lập luận rằng điều này nên thay đổi.

Quan điểm của anh được đưa ra bởi bối cảnh khắc nghiệt của phòng cấp cứu nên rất đáng được xem xét. Anh thường xuyên nhìn thấy những bệnh nhân với vết thương do súng và dao, những người trải qua các giai đoạn loạn thần, tai nạn xe hơi và nạn nhân sử dụng ma túy quá liều – và tất nhiên cả những bệnh nhân tự sát. Đôi khi những bệnh nhân này cầu xin anh ta giết họ. Những lúc khác, họ đe dọa hoặc tấn công các sĩ quan cảnh sát – một nỗ lực để “tự sát bằng cảnh sát.” Khi đã ổn định họ lại, anh thường phải nhốt họ trong phòng có đệm đến 24 giờ và chỉ mặc bộ đồ pijama mỏng như giấy mà có thể xé toạc, có lẽ là dùng thêm thuốc an thần, chờ cho đến khi bác sĩ tâm thần đến. “Thật kinh khủng, thực tế của một phòng cấp cứu đông đúc là sau cùng những bệnh nhân này thường khóc một mình,” anh ấy nói với tôi.

Các bác sĩ phòng cấp cứu thường khá quen thuộc với ketamine; Tiến sĩ Stewart sử dụng nó như một loại thuốc gây mê thường xuyên cho trẻ em vì nó được coi là rất an toàn. Giờ đây, nghiên cứu đã cho thấy tiềm năng điều trị trầm cảm và ngăn chặn các xung động tự sát, ông cho rằng các bác sĩ nên cung cấp nó cho những bệnh nhân tự sát ở phòng cấp cứu “Chúng tôi có thể giúp được rất nhiều người,” ông nói.

Moises Velasquez-Manoff, tác giả của “An Epidemic of Absence: A New Way of Understanding Allergies and Autoimmune Diseases” (Đại dịch vắng mặt: Cách hiểu mới về bệnh dị ứng và bệnh tự miễn) và là biên tập viên của tạp chí Bay Nature, là một tác giả đóng góp ý kiến.

Lược dịch: Team The Givers

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Sự Hứa Hẹn Vô Nghĩa Của Chuyện Phòng Ngừa Tự Sát

Nếu tự sát có thể ngăn ngừa được vậy tại sao rất nhiều người đang chết vì nó? Tự sát là nguyên nhân thứ 10 dẫn tới cái chết ở Mĩ và tỷ lệ tự sát vẫn cứ tiếp tục tăng.

Một vài năm trước, tôi điều trị cho một bệnh nhân là một tiếp viên hàng không, em trai của cô đem cô tới đơn vị can thiệp khủng hoảng tâm thần sau khi nhận thấy hành vi bất thường của cô tại đám cưới. Sau buổi lễ, cô ấy âm thầm để lại quà và thư chúc mừng cho những thành viên trong gia đình. Khi em trai cô chở cô về nhà, anh phát hiện ra rất nhiều đồ nội thất và tranh vẽ biến mất, trong phòng tắm anh phát hiện ra ba hộp thuốc ngủ chưa mở.

Anh đối chất với cô và cô thừa nhận rằng cô đã quyên góp tài sản cho quỹ từ thiện. Cô cũng rút hết tiền hưu trong tài khoản và dùng số tiền đó trả cho tiền thế chấp căn nhà, khoản vay mua xe và tất cả những hoá đơn. 

Khi tôi nói chuyện với cô, cô nói rằng đã hơn 4 tháng mà làm việc gì cũng không thấy vui – ăn, dọn dẹp nhà cửa, nói chuyện với hàng xóm – với những nỗ lực khủng khiếp. Cô cảm thấy kiệt sức bởi việc phải sống mỗi ngày và suy nghĩ phải chống chọi lại điều này trong nhiều năm sắp tới là sự giày vò mà cô không chịu đựng được

Sau khi lượng giá cô, tôi bảo cô rằng tôi nghĩ cô đã trải qua một pha trong rối loạn lưỡng cực và cô cần cam kết đến bệnh viện khi bắt đầu điều trị. Cô nhún vai và quăng cho tôi sự phản hồi khó chịu nhất: “Tôi không quan tâm.”

Một trong những lý do tôi nhớ người phụ nữ này rõ là vì vậy, trong tất cả những bệnh nhân mà tôi từng lượng giá nguy cơ tự sát, cô ấy là một trường hợp bất thường. Cô có sự cân nhắc và duy trì suy nghĩ kết thúc đời mình trong thời gian dài. May thay, điều đó khiến cô bị phát hiện ra và gia đình đã có thể can thiệp kịp thời. Cô đáp ứng tốt với lithium, một trong hai loại thuốc tâm thần được chứng minh giảm thiểu tự sát (loại còn lại là chống loạn thần, clozapine). Cơn trầm cảm của cô thuyên giảm chậm rãi và cô bắt đầu nhớ ra những thứ khiến đời cô đáng để sống.

Cô ấy chính xác là kiểu người muốn tự sát mà bác sĩ tâm thần có thể giúp – một người có bệnh tinh thần không chẩn đoán được nhưng chữa được và chỉ cần được giữ an toàn đến khi thuốc có tác dụng.

Hầu hết những bệnh nhân tự sát tôi gặp đều đi theo một kiểu khác, giống như trường hợp ở viện nội trú gần đây. Một phụ nữ trung niên không có tiền sử tâm thần được đem tới sau khi dùng quá liều giảm đau. Cô ấy bị mất nhà gần đây. Sau bảy năm yên bình thì cô ấy lại suy sụp và sử dụng methamphetamine để giữ mình thức suốt đêm sau khi bị tấn công tình dục trong công viên, nơi cô ấy ngủ hàng đêm. Cô ấy không có gia đình hỗ trợ, không bao hiểm, không tiền và không được giáo dục đến cấp phổ thông.

Cô không thấy được lối thoát nào cho cuộc đời mình. Vì vậy cô đi đến tiệm thuốc và chôm lấy vài chai thuốc chống viêm và chạy vào nhà vệ sinh nơi cô ấy nuốt hết tất cả những viên thuốc mà sức mình có thể trước khi có người bước vào.

Tôi hỏi viện trưởng làm sao để giúp cô trong khi cô còn ở trong bệnh viện. Sau một hồi, ông ấy đề nghị một cách nhẹ nhàng “Cho cổ bắt đầu với thuốc chống trầm cảm?”

Tôi có thể nói với ổng rằng ổng thừa biết điều đó nghe lố lăng cỡ nào.

Là bác sĩ, chúng tôi muốn giúp mọi người và điều đó có thể khó thừa nhận đối với chúng tôi khi những công cụ hỗ trợ có giới hạn. Thuốc chống trầm cảm dường như là giải pháp hiển nhiên, nhưng chỉ khoảng 40% đến 60% bệnh nhân sử dụng chúng cảm thấy khá hơn. Và trong khi gần như 1 trên 10 người Mĩ đều sử dụng thuốc chống trầm cảm, có rất ít bằng chứng thuyết phục chứng minh rằng chúng giúp giảm tự sát. Điều này  là bởi vì có rất nhiều khó khăn dẫn tới chuyện tự sát mà không thể giúp được với việc thêm một chút serotonin. Thuốc chống trầm cảm không thể cung cấp công việc làm hoặc nhà ở, hàn gắn lại những mối quan hệ với thành viên trong gia đình hoặc đem lại sự yên bình.

Phòng ngừa tự sát cũng khó vì những thành viên gia đình hiếm khi biết được người mà họ yêu thương sắp cố gắng tự sát, thường thì người đó cũng không biết về chính bản thân họ. Kế hoạch kĩ càng của cô tiếp viên hàng không là bất thường, phổ biến nhiều hơn là sự chộp bất cứ gì vào tay để tự kết liễu mình trong khoảnh khắc tuyệt vọng.

Theo như một nghiên cứu năm 2016, hầu như một nửa số người cố gắng tự sát đều thực hiện một cách xung động. Một nghiên cứu năm 2001 đã phỏng vấn những người sống sót sau khi thử chạm mặt cái chết (được xác định với bất kì sự thử nào chí mạng mà không hề có sự phòng ngừa y tế hoặc bất kì sự thử nào mà dùng súng) đã nhận thấy đại khái ¼ người có cân nhắc hành động của mình trong khoảng ít hơn 5 phút. Điều này không cho thêm ai nhiều thời gian để để ý điều gì đó sai sai và nhảy vào cuộc hết.

Tuy nhiên những người cung cấp dịch vụ sức khoẻ tâm thần nhớ mãi chuyện kể rằng việc tự sát có thể phòng ngừa được nếu bệnh nhân và người trong gia đình chỉ cần làm theo những bước đúng. Những chiến dịch phòng ngừa tự sát khuyến khích mọi người vượt qua những định kiến và nói với ai đó hoặc gọi cho đường dây nóng. Điều muốn nói ở đây là sự giúp đỡ luôn có, hãy cứ đợi để được phát hiện ra.

Nhưng nó không hề dễ dàng như vậy. Những viện tâm thần ngoại trú tốt rất khó để tìm, khó để vào và khó đủ tiền để trả. Viện nội trú thì dành cho những ca nghiêm trọng và thậm chí với bệnh nhân còn không đủ giường bệnh. Những sự khởi đầu như các đường dây nóng can thiệp khủng hoảng và các chiến dịch chống định kiến tập trung vào việc mở ra cánh cửa chính đến những dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm thần, nhưng mấy thứ này giống như xây thêm cửa cho một toà nhà vốn dĩ đã trống không.

Nhưng vẫn có những thứ chúng ta có thể làm để ngăn chặn tự sát. Một trong vài chiến lược “thử và đúng” đang làm giảm sự tiếp cận của mọi người đến những thứ gây chết người, vì vậy miễn là họ không chìm đắm vào sự vô vọng thì bất cứ sự thử nào cũng hầu như không nguy hiểm đến tính mạng. Nếu bệnh nhân đầu tiên của tôi không có khẩu súng trong nhà thì cô ấy lẽ ra không chết . Nếu bệnh nhân thứ hai của tôi túm lấy acetaminophen thay vì ibuprofen thì có lẽ cô ấy cũng không chết. Ngăn chặn cái chết trong khoảnh khắc tuyệt vọng đầy xung động đó là mấu chốt cho việc giảm thiểu tỉ lệ tự sát. Ngược lại với quan điểm phổ biến đó, chỉ có một số nhỏ người sống sót sau một lần cố gắng tự sát nghiêm trọng lại tiếp tục và chết trong lần cố gắng khác.

Sự quyết định dừng sống là một thứ mà người ta chọn bởi rất nhiều lý do, một vài người thì phải qua nhiều tháng, nhưng rất nhiều người chỉ vài phút. Những người này sẽ không ngăn lại được bởi hệ thống chăm sóc sức khoẻ tâm thần. Chúng tôi dĩ nhiên cần nhiều dịch vụ tâm thần hơn và nhiều nghiên cứu hơn để tốt hơn, ra tay điều trị nhanh hơn cho những người trầm cảm nặng và có ý định tự sát, nhưng điều đó sẽ không bao giờ đủ.

Chúng ta cần nhấn mạnh cái nguyên nhân cốt lõi của vấn đề tự sát của nước ta – nghèo đói, vô gia cư và những trải nghiệm biến cố kèm theo, tội phạm và ma tuý. Điều đó nghĩa là điều trị nghiện chất, tham vấn gia đình, nguồn nhà ở cho người thu nhập thấp, huấn luyện nghề nghiệp và tâm lý trị liệu cá nhân sẽ tốt hơn. Và với những người vẫn có nguy cơ trượt qua tất cả những điểm chốt này, chúng ta cần đảm bảo rằng họ không có sự tiếp cận với súng hay những thuốc gây chết người.

Chúng ta bỏ qua tất cả những điều này và vẫn tiếp tục kể nhau nghe rằng ta có giải pháp đơn giản trong tay, gia đình của những nạn nhân tự sát sẽ bị bỏ lại với câu hỏi là họ đã làm gì sai.

By Amy Barnhorst

Tiến sĩ Barnhorst là một bác sĩ tâm thần.

Lược dịch: The Uranian.

Đăng trong Therapy

Các Nhà Lâm Sàng Sẽ Đi Về Đâu Khi Bệnh Nhân Của Họ Tự Sát

Một y tá cho tôi xem bài báo ngay khi tôi vừa bước vào. Tôi nhìn thấy một gương mặt cười của chàng trai trẻ mà tôi đã chăm sóc từ khi anh ấy còn là một cậu thiếu niên. Sau vài lần tự hoại và đe doạ tự sát, cậu được nhận vào bệnh viện Connecticut, nơi tôi đang làm việc với vai trò là bác sĩ tâm thần nhi và thanh thiếu niên. Tôi ước tôi được nhìn thấy nụ cười đó suốt quá trình điều trị, nụ cười đó trông thật chân thật. Nhưng nụ cười trên bài báo lại là một bài cáo phó.

Tôi như vụn vỡ. Tôi chẳng biết làm gì với cảm giác của mình và thấy nhục nhã nếu để người ta biết. Lượng giá tự sát là một phần cơ bản trong chương trình đào tạo tâm thần của tôi, nhưng làm gì khi tự sát chưa diễn ra. Điều này đúng cho rất nhiều chương trình đào tạo tâm thần dọc theo cả nước. Điều cần nhấn mạnh ở đây là họ coi trọng việc phòng ngừa tự sát nhưng không hề có đủ sự tập trung trong việc chuẩn bị cho những bác sĩ thực tập về chuyện mất mát bệnh nhân bởi tự sát hay việc làm sao để đương đầu với kết quả sau đó.

Cái chết của chàng trai trẻ này đặc biệt đau lòng với tôi vì anh ấy không phải là người hoàn toàn xa lạ. Lần nhập viện cuối cùng của anh là hai tháng trước khi anh chết, và cũng là lần đầu tiên tôi không phụ trách chăm sóc cho anh. Chỉ trước lần nhập viện đó, quý bà dễ thương đã sửa quần áo cho tôi và đề cập rằng cháu bà đã nhập viện được vài lần rồi. Bà ấy biết tôi là bác sĩ tâm thần và bắt đầu kể về hành trình gian khổ mà gia đình bà phải đối mặt vì sự chiến đấu với vấn đề sức khoẻ tâm thần của cháu mình. Sau đó bà ấy nhắc tên anh. Trong lĩnh vực của tôi – cái dựa vào sự tin tưởng tuyệt đối của bệnh nhân, điều này khá khó khi mà vừa điều trị cho ai đó, vừa phải có mối quan hệ tách bạch với người thân của họ. Tôi cảm thấy tôi không thể giả vờ rằng tôi không biết đứa cháu. Tôi biết bà ấy hơn 10 năm và chúng tôi cũng chia sẻ nhiều chuyện cá nhân với nhau. Nhưng tôi cũng biết rằng tôi phải bảo vệ quyền bảo mật của bệnh nhân nên phải giữ im lặng về những nỗi sợ, những hy vọng và những giấc mơ chưa thực hiện được của người cháu. Đối mặt với tình thế đạo đức nghề nghiệp khó xử này, tôi đã tự biện hộ cho bản thân mình bằng việc sẽ chăm sóc cho chàng trai trẻ trong lần tiếp theo anh ta nhập viện.

Giờ thì anh ấy tự sát rồi. Chỉ vài tháng sau khi tôi thừa nhận với chính mình rằng  những bí mật mình cất giữ phản ánh ý thức của tôi về việc mình đã thất bại như thế nào với người bà đó – và tôi cũng thiếu cả dũng khí để chạm mặt với bà ấy lần nữa.

Tôi bị ám ảnh bởi cuộc trò chuyện với cháu của bà suốt lần nhập viện cuối mà tôi chịu trách nhiệm theo sát anh ta. Anh ấy nói với tôi rằng anh cảm thấy hy vọng về cuộc sống trong khi ở bệnh viện nhưng thế giới ngoài kia thì thật khó lường. Đâu đó trong tâm trí bất định của tôi, tôi tin rằng đã làm anh ta thất vọng – Tôi thất bại với việc làm cho thế giới này trở nên lường trước được. Nếu đó là thứ đảm bảo để anh còn sống tới ngày hôm nay, lẽ ra tôi đã nên tìm cách để làm được điều đó.

Những đánh giá trong nội bộ bệnh viện nếu được phân tích và tách bạch khỏi những tác động về mặt cảm xúc sâu sắc được cảm nhận bởi những bác sĩ và các nhân viên khác. Với cương vị là một bác sĩ tôi cảm thấy bị ép buộc phải duy trì và thể hiện một sự trắc ẩn có lý do, việc chấp nhận sự mất mát bệnh nhân như một phương diện khác trong nghề nghiệp của tôi. Và lẽ đương nhiên như những con người khác, chuyện tự sát của bệnh nhân để lại cho tôi cảm giác mất mát.

Một người bạn thân hồi đại học, Tiến sĩ Heather Paxton đang làm việc tại một bệnh viện tâm thần bậc nhất bang Connecticut, nơi mà tôi cũng từng làm việc. Cô ấy miêu tả thế này: “Bạn sẽ không hề nhận ra rằng phóng xạ tác động nhiều như thế nào với bạn mãi cho đến sau này. Chuyện bệnh nhân tử vong do tự sát rất khó chịu, nhưng một số có thể thực sự gây chấn thương tâm lý.

Trong những ca tự sát mà Paxton đã làm việc trong suốt quá trình thực hành, một ca rất khó khăn liên quan tới một bệnh nhân trẻ muốn tự sát trong thời gian ngắn sau khi xuất viện. Cô ấy nhận ra mình có những cơn ác mộng thường xuyên và những ký ức không mong đợi. Cô nhận ra những điều này như là những dấu hiệu của stress sau sang chấn tạm thời.

Paxton cho rằng cô ấy may mắn. Những đồng nghiệp hiểu chuyện mà cô ấy đang trải qua, những thành viên của đội phản hồi khủng hoảng trong bệnh viện mời những bác sĩ lẫn điều dưỡng – những người từng làm việc với bệnh nhân đó để gặp mặt và nói về những chuyện đã xảy ra.

“Họ tạo ra một không gian và thừa nhận rằng bệnh nhân tự sát rất dễ gây căng thẳng. Nó là một trải nghiệm khó khăn thậm chí cho những người chăm sóc người khác.”

Tôi đã va vào Paxton ngay khi tôi vừa bước ra khỏi đơn vị nội trú sau khi nhìn thấy tin cáo phó. “Tôi rất lấy làm tiếc, tôi đã nghe tin về bệnh nhân của bạn,” cô ấy nói với tôi và chạm vào cánh tay tôi “tôi biết điều đó như thế nào”.  Đó là tất cả những gì cô ấy nói. Nhưng một vài từ này cũng có ý nghĩa rất nhiều. Tôi đã không cô độc.

Bệnh nhân tự sát được mô tả như một sự may rủi nghề nghiệp trong ngành tâm thần. Vào năm 2009, Bengi Melton và các đồng nghiệp từ trường Cao đẳng dược Baylor đã báo cáo trong Academic Psychiatry rằng chỉ một phần năm trưởng khoa tâm thần nội trú cảm thấy sẵn sàng đối mặt với hậu quả của một vụ tự sát của bệnh nhân. Như Paxton giải thích với tôi, hậu quả trở nên khó khăn hơn khi những bác sĩ tâm thần không được đào tạo về những gì phải mong đợi. 

Sự thiếu sót trong đào tạo có lẽ ngày càng rõ ràng hơn khi các bác sĩ tâm thần thấy mình đang ở trên tuyến đầu của một cuộc khủng hoảng sức khỏe tâm thần đang gia tăng. Theo Trung tâm kiểm soát dịch bệnh, tự sát hiện là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai ở những người trong độ tuổi từ 10 đến 34. Đáng báo động hơn nữa là tỷ lệ tự sát ở Mỹ tăng 28% từ năm 1999 đến năm 2006.

Tuy nhiên cũng có một vài trung tâm y tế đang bước từng bước để tạo ra những đội ngũ hỗ trợ cho các nhà lâm sàng của họ.

Một ví dụ là Bệnh viện Nhi đồng Boston. Vào năm 2003, họ đã quyết định thành lập một nhóm để can thiệp bất cứ khi nào có tình huống khó khăn liên quan đến bệnh nhân ảnh hưởng đến bất kỳ bác sĩ lâm sàng nào của bệnh viện. Lauren Coyne, một nhân viên xã hội và y tá trong Văn phòng hỗ trợ lâm sàng (OCS) của bệnh viện, đã đóng một vai trò quan trọng trong chương trình.

Tự sát khác với các trường hợp tử vong khác của bệnh nhân, Coyne lưu ý. Trong các bệnh mãn tính, các bác sĩ và gia đình thường có thể chuẩn bị cho cái chết của bệnh nhân. Không phải như vậy với tự sát, trong đó sự đột ngột mất mát có thể làm lung lay nền tảng của bất kỳ bác sĩ lâm sàng nào, cho dù là mới vào nghề hay kinh nghiệm sâu sắc. Văn phòng của cô phát hiện tới 300 trường hợp mới mỗi năm, Coyne cho biết các câu trả lời bắt đầu bằng nỗi buồn sâu sắc nhưng thường bao gồm một mối lo ngại ám ảnh rằng mọi việc lẽ ra nên được thực hiện khác hoặc tốt hơn để cứu bệnh nhân.

Điều quan trọng là đau buồn và mất mát có một vị trí trong cuộc đời của một bác sĩ tâm thần, giống như bất kỳ bác sĩ nào khác, chúng tôi cũng đối phó với các bệnh nan y. Tuy nhiên, tôi ước ai đó đã chuẩn bị cho tôi trong suốt những năm được đào tạo về cái chết của bệnh nhân. Tự sát có thể phòng ngừa được trong nhiều trường hợp, nhưng không phải tất cả, và khi chúng ta chăm sóc những bệnh nhân bị bệnh nặng thì điều này có thể xảy ra; nó không phải là một thất bại.

Các cơ quan cần phải đảm bảo rằng tác động cảm xúc sâu sắc mà các bác sĩ tâm thần cảm nhận phải được thừa nhận và cung cấp hỗ trợ phù hợp. Kiểm tra mang tính hình thức và các cuộc phỏng vấn bệnh viện thường không đề cập đến cảm giác mất mát hay đau buồn, mà thay vào đó tập trung vào việc xem xét phân tích các quyết định của nhóm lâm sàng. Sự chăm sóc bệnh nhân tâm thần không xảy ra cô lập chỉ trong văn phòng bác sĩ. Có nhiều hệ thống liên quan xác định hướng chăm sóc. Gánh nặng trách nhiệm không nên chỉ đặt lên một vài người. Mất mát này phải thuộc sở hữu của tất cả mọi người, chỉ khi những người đến với nhau để hỗ trợ lẫn nhau thì sau đó thì đám mây mù xấu hổ và tội lỗi mới có thể được dỡ bỏ.

Tôi tự hỏi liệu tôi có hành động khác đi với các nhân viên khác và bản thân mình không, nếu một đội tương tự như của Coyne hỗ trợ chúng tôi dù biết rằng có những người hiểu và không đổ lỗi. Có lẽ tôi đã nhìn vào bức tranh trong cáo phó lần thứ hai. Và tôi hy vọng rằng lẽ ra tôi nên gom đủ can đảm để nói với bà của cậu ta rằng tôi cảm thấy rất tiếc như thế nào.


Zheala Qayyum là một bác sĩ tâm thần trẻ em và vị thành niên và là giám đốc đào tạo liên kết cho chương trình nghiên cứu tâm thần học trẻ em và vị thành niên tại Bệnh viện nhi đồng Boston. Cô là một giảng viên tại Trường Y Harvard và Trường Y Yale.

Lược dịch: The Uranian

Đăng trong Therapy

Cách Một Nhà Trị Liệu Thương Tiếc

by Jon McNaught

Một hôm không lâu sau lần kiểm tra sinh thiết não, tôi ghé thăm Joseph trong bệnh viện, mang theo 2 chiếc sandwich lúa mạch đen kẹp thịt bò. Tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ thưởng thức bữa trưa cùng nhau, hết sức có thể trong những ngày mà anh ấy vẫn lúc tỉnh lúc mê.

Tôi vào phòng; Tôi thật may mắn! Joseph đã tỉnh. Háo hức, anh ấy mở chiếc bánh sandwich ra và đặt miếng dưa muối thìa là vào giữa hai miếng bánh. Anh bóc lớp trên cùng của bánh và nghiêng đầu sang một bên để nhìn cho kĩ.

“Thịt nạc hả?” Giọng của Joseph cất lên đầy hoài nghi.

Cô y tá ngồi trong góc đã phớt lờ chúng tôi từ đầu tới giờ. Cô hạ thấp một góc của tờ The Baltimore Sun để nhìn thấy Joseph với ánh nhìn miệt thị.

Joseph cất giọng, gần giống với giọng oang oang trước đây của mình. “ Tiến sĩ Weiss, lần sau nếu cô định mang thịt bò cho tôi… làm ơn, đừng mang thịt gân.”

Tôi cười. Đây đúng là Joseph mà tôi biết. Nhưng đó sẽ là câu nói mạch lạc cuối cùng tôi được nghe từ anh ấy. Hai tháng sau tôi sẽ dự đám tang của anh.

Tôi mở ngăn kéo tủ tài liệu của mình và truy xuất một số tập hồ sơ: những bệnh nhân đã chết trong khi tôi điều trị cho họ suốt 20 năm tôi hành nghề bác sĩ tâm thần độc lập. Tôi đang thu thập chất liệu để viết về cảm giác của các nhà trị liệu khi một bệnh nhân qua đời. Tôi thực hiện một vài quan sát.

Đầu tiên, tôi thấy rằng các hồ sơ vẫn nằm trong ngăn tủ tài liệu “đang hoạt động” của tôi. Tôi đã không chuyển chúng đến ngăn “ngưng hoạt động” – ngăn lớn hơn và chật chội hơn nhiều – ngôi nhà mà chúng nên thuộc về.

Thứ hai, tôi nhận thấy rằng tôi đã phát triển một nghi thức tưởng nhớ tự động. Bất cứ khi nào những ngón tay tôi chạm vào một trong các bìa hồ sơ của một bệnh nhân đã chết, tôi dừng lại và nhắm mắt trong giây phút ngắn ngủi nhất. Tôi tỏ lòng kính trọng thầm lặng đối với những người đã khuất.

Có gì đó ở đây. Phải chăng tôi đang cầu xin sự tha thứ vì đã phạm sai lầm? Vì chưa làm đủ? Có lẽ tôi đang tránh khỏi nỗi sợ hãi của chính mình về việc một ngày nào đó sẽ bị khóa chặt và lãng quên như thế này.

Bất kể ý nghĩa nào khác có thể có trong những nghi thức nhỏ, riêng tư này, tôi tin rằng chúng chủ yếu nói lên sự cô lập của nhà trị liệu khi bệnh nhân chết, và con người cần tạo ra nghi lễ khi cái chết xảy ra. Các nhà trị liệu thường không tham gia với những người trong cuộc sống của bệnh nhân họ. Không có ai gọi cho tôi về Joseph – không có gia đình hoặc bạn bè để chia sẻ những kỷ niệm, để cười hay để khóc.

Đừng hiểu lầm tôi; Tôi không thỉnh cầu sự thông cảm. Không thể so sánh nỗi mất mát của tôi với gia đình và bạn bè của bệnh nhân. Tuy nhiên, đây là một khía cạnh nghề nghiệp của tôi hiếm khi được thảo luận: Giống như những gì diễn ra trong phiên trị liệu đều xảy ra sau những cánh cửa đóng kín, nhà trị liệu cũng đau buồn sau khi một bệnh nhân qua đời.

Những nhà trị liệu thương tiếc một mình.

Trước khi tôi biết rằng một đám tế bào ung thư đang lén lút xâm nhập vào não của Joseph, tôi nghĩ rằng anh ấy và tôi có thể sẽ tiến triển đến một mức nào đó trong các phiên trị liệu. Joseph là một người đàn ông tài năng và mưu mẹo với vô số kế hoạch cho tương lai. Dù cho hàng loạt thứ nghiêm trọng đã xảy ra trong những năm đầu điều trị của anh như công việc kinh doanh gặp khó khăn, quan hệ gia đình căng thẳng và bạn bè xa lánh, những vấn đề này là sự tập trung cấp thiết của chúng tôi. Nhưng trong vài tháng qua, một số phần về cơ bản hơn đã được ổn thoả.

Khi còn nhỏ, anh chưa bao giờ được lắng nghe. Tất nhiên, còn nhiều điều hơn thế nữa, nhưng niềm tin của anh ấy rằng cha mẹ anh thực sự không thể nghe thấy anh là rất sâu sắc. Anh ấy đã được lắng nghe trong tiến trình trị liệu. Chí ít, anh ấy đã không phải la hét mọi lúc.

Trong phiên cuối cùng tại văn phòng của tôi, Joseph vẫn đến rất muộn như mọi khi. Anh hạ mình xuống chiếc ghế tựa bọc da, chùn bước vì đau nhức xương khớp và rên lên một tiếng hiện sinh: “Oy, gottenyu— vey ist mir.”Trời ơi – khốn nạn thân tôi. Anh lau trán bằng một chiếc khăn tay cũ.

Trước kia, những tràng chửi rủa bùng nổ của anh áp đảo cả tiếng vù vù nhẹ từ máy tạo tiếng ồn trắng để lọt vào đôi tai tò mò của bệnh nhân tiếp theo trong phòng chờ. Giờ điều đó đã nhường chỗ cho những giọt nước mắt dịu dàng trong các phiên như thế này. Tuy nhiên, vẫn khó để biết chính xác anh ấy sẽ xoay chuyển cuộc đời mình như thế nào. Đống đổ nát tàn dư của rất nhiều lần anh bùng nổ cảm xúc với những người thân thiết nhất đã chặn mất con đường được tha thứ, khiến anh bị tách biệt và cô đơn.

Joseph biết rằng tôi bị kích thích khi nghe anh ấy gọi tôi là “Weiss”, và anh ấy hay đùa khi rời khỏi phiên trị liệu, “Tôi sẽ nói với Rosenbaum rằng Weiss và tôi đã làm rất tốt ngày hôm nay.” (Bạn của anh ấy, Rosenbaum đã giới thiệu anh với “món” trị liệu này .)

Nhưng sau đó tin dữ đột nhiên đến và anh ấy nhanh chóng sa sút. Tất cả phiên trị liệu đều ngừng lại với hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn – chúng tôi tin rằng sẽ có lúc nào đó như vậy. Nhưng thời gian của Joseph đã hết.

Đây là một điều thầm kín mà các nhà trị liệu hiếm khi thừa nhận: Chúng ta thường phát triển tình cảm với bệnh nhân của mình.

Tôi không nói về phản chuyển di (nghĩa là khi nhà trị liệu nảy sinh tình cảm không đúng chỗ với bệnh nhân, thứ xuất phát từ các mối quan hệ trong cuộc sống của chính nhà trị liệu). Tôi đang nói về tình yêu thực sự, thứ hiện ra sau nhiều năm trở thành người mẹ “đủ tốt” của ai đó, như cách nhà phân tâm học D. W. Winnicott gọi một phụ huynh cung cấp được môi trường thích hợp cho sự phát triển bình thường của một người.

Một nhà trị liệu có thể dành hàng trăm giờ, có khi hơn một nghìn giờ để nghe về những khát vọng cao cả nhất của bệnh nhân và những huyễn tưởng đầy thù hận, hung ác nhất của bệnh nhân. Trong thời gian này, bệnh nhân có thể chịu đựng những mất mát quá lớn, những nỗi nhục nhã không thể chịu đựng, những nỗi buồn cay đắng và những thành công vĩ đại. Bạn có thể đồng hành với bệnh nhân đi qua những đau khổ từ tuổi thiếu niên đến tuổi trưởng thành. Hoặc bạn có thể gặp họ ở tuổi trung niên, vẫn bên họ khi họ già đi và cuối cùng là chết. Bạn cộng tác với họ trong một quá trình khám phá sâu thẳm.

Rất ít cuộc gặp gỡ giữa nhà trị liệu và bệnh nhân có thể trở nên chân thật một cách sâu sắc và hình thành sự thân mật. Sự gắn bó tạo ra những cảm giác sâu sắc, một loại tình yêu đặc biệt.

Tôi đã có một tình yêu của nhà trị liệu dành cho Joseph.

Tại đám tang của Joseph, tôi ngồi ở hàng ghế sau – vị trí của nhà trị liệu – tay cầm hộp khăn giấy. Tôi đến đây không phải để được nhìn thấy hay vì lợi ích của gia đình anh. Tôi được thúc đẩy đến đây bởi mong muốn được nói lời tạm biệt với bệnh nhân của mình.

Các nhân vật quen thuộc xuất hiện trong giáo đường Do Thái, tôi nhớ ra họ từ những câu chuyện đã nghe qua nhiều năm trong các phiên trị liệu của Joseph. Bây giờ tôi nhìn thấy bạn bè, kẻ thù và gia đình của anh ấy bằng xương bằng thịt. Tôi biết nhiều về đời sống tình cảm của anh ấy hơn bất cứ ai khác ở đây. Tôi cũng biết khá nhiều về những người này (tất nhiên là theo góc nhìn của Joseph) nhiều hơn những gì họ muốn tôi biết. Đó là một lý do khác khiến tôi ngồi lại ở hàng sau cùng: Tôi không muốn gây khó chịu cho họ.

Đám tang kết thúc. Mọi người tụ tập lại để an ủi nhau. Tôi lặng lẽ rời khỏi tòa nhà tối tăm và bước ra dưới ánh nắng chói chang. Chẳng bao lâu nữa họ sẽ tập hợp lại và ăn những món mà tôi cũng thích – bánh vòng, kem phô mai, trứng luộc và cá hun khói. Trong một khoảnh khắc, tôi ước mình có thể tham gia cùng họ. Họ sẽ cười rồi khóc với những câu chuyện bất tận về Joseph. Họ sẽ bắt đầu một tiến trình tang chế bình thường – lưu giữ hình ảnh của anh trong nội tâm họ, những ký ức mà họ sẽ nuôi dưỡng và tô điểm thêm – làm dịu đi cảm giác mất mát về Joseph, và họ cũng nên làm như vậy.

Tôi rời đi với những bí mật còn nguyên vẹn của anh ấy. Những hy vọng và những giấc mơ kỳ diệu của anh ấy giờ là của tôi, để ôm ấp, để tôn vinh anh ấy cho đến khi tôi mất đi trí nhớ của chính mình, hoặc khi tôi chết.

Các chi tiết đã được thay đổi để bảo vệ quyền riêng tư của bệnh nhân.

Nguồn: opinionator.blogs.nytimes.com

Tác giả: Robin Weiss, là một bác sĩ tâm thần ở Baltimore.

Lược Dịch: The Uranian

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Làm Thế Nào Để Hỏi Ai Đó Về Việc Tự Sát?

Tôi nhớ lần đầu tiên khi tôi hỏi một thân chủ rằng liệu người ấy đã từng có suy nghĩ về tự sát chưa. Tôi cảm thấy sợ hãi. Tôi có cảm giác mình hơi quá trớn. Và đâu đó sâu thẳm bên trong tôi, tôi thật sự không muốn biết câu trả lời cho lắm. Tôi không chắc rằng tôi sẽ phản hồi lại tốt nếu nghe được câu trả lời là “có”, và tôi thậm chí còn lo lắng rằng mình sẽ làm tình hình tệ hơn.

 Và câu chuyện này diễn ra sau khi tôi đã được tập huấn, giám sát và trải nghiệm nhiều năm rồi.

Cho dù chúng ta có là ba mẹ, thầy cô, nhà tham vấn, đồng nghiệp, bạn bè hay là một thành viên trong gia đình, con người chúng ta vẫn có tiềm thức sợ hãi các cuộc trò chuyện liên quan đến chủ đề tự sát. Nỗi sợ đó nằm sâu thẳm trong lòng chúng ta. Nhưng nỗi sợ hãi đó đang cản trở khả năng của chúng ta trong việc hỗ trợ cho người khác trong những ngày khó khăn nhất của họ.

Sau khi anh trai tôi mất vì tự sát vào năm 2004, tôi đã hứa rằng mình sẽ phải học thêm về tự sát – đặc biệt là cách để cởi mở nói về việc này. Vì thế, khoảng thời gian 14 năm dành sự tập trung vào các chuyên gia đầu ngành, các nhà nghiên cứu và những người đã sống sót qua cơn khủng hoảng tự sát đã giúp tôi tích lũy một số phương pháp hay nhất để nói chuyện về chủ đề tự sát. Nếu bạn cần những điều này, tôi hy vọng chúng có thể giúp bạn.

CÁCH ĐỂ BẮT ĐẦU CÂU CHUYỆN

Tìm hiểu. Cách thực tế nhất để hiểu biết chính là đi hỏi. Nếu bạn quan sát thấy hành vi hoặc những dấu hiệu khiến bạn lo lắng, hãy hỏi. Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra khi bạn đánh giá sai là bạn có thể sẽ cảm thấy xấu hổ một chút. Ý nghĩ tự sát thường là dấu hiệu cảnh báo quan trọng cho thấy điều gì đó đang không ổn; những mức độ khác nhau về xúc cảm mãnh liệt thường được thấy ở những người đang rơi vào thời kỳ khó khăn. Khi bạn cảm thấy “Giác quan thứ sáu” của bạn bồn chồn hay tự hỏi “Tôi có nên lo lắng không?” – hãy tìm hiểu. Hãy hỏi.

Hiểu biết nguồn lực của bạn. Hãy làm quen với những nguồn lực hỗ trợ mà bạn có trong cộng đồng. Một vài ví dụ như là phòng tham vấn học đường, chương trình hỗ trợ nhân viên, một cơ quan sức khỏe tâm thần cộng đồng tại địa phương, hoặc các nguồn hỗ trợ khủng hoảng của quốc gia như Đường dây nóng ngăn ngừa tự sát quốc gia hoặc Đường dây tin nhắn về khủng hoảng. Hãy tham gia vào cuộc trò chuyện này như một người hiểu rõ thông tin về nguồn lực.

Tập trở nên thoải mái với những cảm xúc không dễ chịu. Đối với nhiều người, việc hỏi về tự sát sẽ đánh thức nỗi lo âu – và điều đó có lý. Trò chuyện về sự sống và cái chết thì khá là căng thẳng. Hãy lưu ý và thừa nhận cảm xúc của bạn, và cố gắng hết sức để trở nên tĩnh tâm trước khi bạn bắt đầu cuộc trò chuyện. Sự hiện diện về mặt thể lý và cảm xúc của bạn sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nhịp điệu của cuộc trò chuyện. Vì vậy, hãy hít thở sâu và tập trung vào lòng trắc ẩn trong trái tim bạn.

Tạo ra một không gian an toàn. Tìm một nơi kín đáo và thoải mái. Dựa vào tình huống thì có thể chọn tản bộ bên ngoài hay là tìm một nơi yên tĩnh để ngồi xuống. Hãy tìm những tín hiệu để biết về mức độ gần gũi thể lý và cường độ giao tiếp ánh mắt phù hợp với họ. Một vài người thì thích ngồi cạnh nhau khi trò chuyện, một số khác lại thích ngồi mặt đối mặt. Nếu như bạn đang ngồi, hãy chắc chắn rằng ngôn ngữ cơ thể của bạn giao tiếp một cách cởi mở, hứng thú và bạn đang ngồi ngang tầm với người mà bạn trò chuyện. Hãy bỏ chút thời gian để tắt điện thoại và đóng cửa cẩn thận để cuộc trò chuyện không bị gián đoạn.

Bắt đầu bằng “Tôi chú ý thấy…” Hãy cảm ơn họ vì đã dành thời gian để trò chuyện cùng bạn, và liệt kê ra những điều bạn quan sát thấy khiến bạn trở nên lo lắng. Nói về những thời điểm và không gian cụ thể khi mà họ không giống với bình thường. Có thể bạn chú ý đến sự thay đổi trong tâm trạng của họ khi họ dễ cáu gắt hơn bình thường. Hoặc có thể bạn chú ý đến sự thay đổi về hành vi của họ, như là họ bắt đầu uống rượu/bia nhiều hơn. Có thể bạn biết được rằng họ vừa chia tay vợ/chồng hay người yêu cách đây không lâu.

Hỏi những câu hỏi mở. Để cuộc trò chuyện được tiếp tục, hãy hỏi câu hỏi mở, “Tôi muốn hiểu rõ hơn về những gì bạn đang phải trải qua. Bạn có thể kể cho tôi nghe thêm không?”

Luyện tập lắng nghe tích cực. Kiềm chế đưa ra giải pháp cho các vấn đề và lời khuyên. Thay vì vậy, hãy thể hiện cho họ thấy rằng họ đang được lắng nghe. Sử dụng các động tác động viên nho nhỏ như là gật đầu, và nói “Ừm” và “Và sau đó chuyện gì xảy ra?” để kéo dài cuộc trò chuyện.

CÁCH ĐẶT NHỮNG CÂU HỎI LIÊN QUAN ĐẾN TỰ SÁT

Điều chỉnh cách hỏi thể hiện sự thấu cảm và lòng trắc ẩn. “Bạn biết đấy, đôi lúc khi người ta trải qua những gì bạn đang phải trải qua, họ thường sẽ rơi vào một nỗi đau không gì có thể tưởng tượng được. Những ý nghĩ như, ‘Tôi ước tôi có thể chìm vào giấc ngủ và không bao giờ tỉnh lại vào buổi sáng’ sẽ xuất hiện trong tâm trí của họ vì nỗi đau đã vượt khỏi khả năng đương đầu của họ.”

Giả định rằng chuyện tự sát có thể xảy ra. Bởi vì ý nghĩ tự sát thường xuất hiện ở những người cảm thấy quá tải, nên bạn có thể nói một vài điều như, “Đôi lúc khi cảm xúc đau đớn trở nên quá mãnh liệt, con người sẽ nghĩ đến việc tự sát. Tôi tự hỏi liệu rằng có bao nhiêu lần ý nghĩ tự sát xuất hiện trong tâm trí bạn, cho dù nó chỉ là thoáng qua.”

Sử dụng ngôn ngữ trực tiếp. Sử dụng từ “tự sát” theo một cách trực tiếp, “Chúng ta có thể nói về nó ở đây.” Việc sử dụng ngôn ngữ trực tiếp như “tự sát” thay vì “tự làm đau bản thân” là rất quan trọng, vì chúng là 2 vấn đề khác nhau.

NHỮNG VIỆC NÊN LÀM SAU KHI ĐẶT CÂU HỎI VỀ TỰ SÁT

Nếu câu trả lời là “Không”: Chú ý những dấu hiệu không lời. Nếu như họ tỏ ra phòng bị và không thể giao tiếp bằng ánh mắt thì có khả năng là có điều gì đó khác đang diễn ra đằng sau những hành vi này. Trong trường hợp này, hãy chỉ ra các điểm mâu thuẫn và nói, “Bạn nói với tôi rằng bạn hiện đang rất ổn, nhưng bạn có vẻ không thể giao tiếp bằng ánh mắt với tôi. Bạn có thể cho tôi biết vì sao hay không?” Trong trường hợp này, bạn cần phải kiên trì bằng cách tiếp tục đặt câu hỏi  nhiều cách khác nhau.
Nếu câu trả lời “không” thật sự là “không” thì thường người ta sẽ bày tỏ lòng biết ơn vì bạn đã quan tâm và muốn giúp đỡ họ, sau đó họ sẽ tiếp tục kể về những khó khăn của họ.

Nếu câu trả lời không rõ ràng: Đôi khi người ta sẽ trả lời bằng một vài câu hỏi đại loại như, “Bạn nghĩ như thế nào?” hoặc người ta sẽ nói một vài điều như, “Không, không hẳn vậy.” Và cũng đôi khi, họ sẽ không trả lời  và lái sang một vài câu chuyện khác. Trong những trường hợp này, câu trả lời sẽ thường là “Có”. Một lần nữa, hãy nhắm vào điều này: “Khi tôi hỏi bạn câu hỏi trực tiếp về tự sát, bạn nói XYZ, vậy có đúng không khi tôi hiểu rằng việc tự sát đã từng xuất hiện trong tâm trí của bạn? Tôi có thể thông cảm rằng bạn có thể có nhiều lý do để lưỡng lự khi chia sẻ với tôi về việc này, nhưng tôi mong rằng chúng ta có thể cởi mở nhiều nhất có thể ngay bây giờ để tôi có cơ hội giúp đỡ bạn.”

Nếu câu trả lời là “Có”: Những từ đầu tiên phát ra từ miệng của bạn nên là, “Cảm ơn.” Hãy thể hiện sự biết ơn vì họ đã chia sẻ thật lòng với bạn và vì sự trân trọng của họ dành cho mối quan hệ này. Điều thứ hai bạn nên nói là cảm nghĩ về sự đồng hành – đại loại như, “Tôi đứng về phía bạn, và chúng ta sẽ cùng nhau tìm ra hướng giải quyết cho việc này. Tôi không muốn bạn chết.” Điều thứ ba nên nhắc đến chính là trao đi niềm hy vọng: “Tôi có một số việc để chúng ta có thể làm cùng nhau. Nếu chúng ta giúp bạn cảm thấy bớt tồi tệ, tôi đoán rằng bạn sẽ không còn nghĩ về việc tự sát nữa. Vậy thì hãy làm cùng nhau nào.”

Xây dựng cơ hội, và hành động ngay lập tức. Nhiều người đã từng trải nghiệm ý nghĩ muốn tự sát cảm thấy họ đã mất khả năng kiểm soát cuộc sống của mình. Tự sát tương tự như một thứ gì đó mà họ có thể tự kiểm soát. Để giúp họ phục hồi lại khả năng quản lý bản thân, việc tạo ra cơ hội rất quan trọng. Ví dụ, hãy hỏi rằng họ có muốn liên hệ với Đường dây ngăn chặn tự sát quốc gia hay Đường dây tin nhắn khủng hoảng hay không. Hãy hỏi rằng liệu họ có muốn nói chuyện qua điện thoại với một nhà tham vấn hay không, hoặc có muốn bạn giúp họ làm việc đó không.

Tuy nhiên, nếu họ tiết lộ về kế hoạch họ có thể dùng để tự sát của mình thì việc có một chuyên gia về sức khỏe tâm thần quyết định nên làm gì trong bước tiếp theo là rất cấp bách. Hãy nói, “Tự sát là một vấn đề quá nghiêm trọng để tôi có thể xử lý một mình. Tôi cần sự giúp đỡ để có thể giúp bạn. Tôi sẽ giới thiệu bạn đến một chuyên gia y khoa, người đã qua đào tạo và tiếp cận được nhiều nguồn lực hỗ trợ hơn.”

Tiếp tục theo dõi. Đôi khi là một cuộc hẹn cà phê hay ăn trưa. Đôi khi là đi dạo quanh công viên gần nhà hoặc là một chuyến đi biển. Đôi khi chỉ là một cuộc điện thoại đơn giản hoặc một chuyến ghé thăm sang nhà họ trên đường về nhà của bạn. Không cần quan tâm hình thức ra sao, hãy tạo một kế hoạch cụ thể để theo dõi bằng cách nói một vài điều tương tự như, “Tôi sẽ đến vào ngày mai để xem bạn như thế nào rồi.” Việc theo dõi sẽ khiến mọi việc trở nên rất khác, mặc cho buổi trò chuyện sẽ biến thành cái gì.

Trên đây chỉ là một số lời khuyên về cách xử lý khó khăn và nỗ lực cứu mạng trong việc cố gắng trò chuyện về tự sát. Và những cách này chỉ là bước khởi đầu. Tôi đề nghị rằng tất cả mọi người từ 15 tuổi trở lên cần hoàn thành các khóa đào tạo ngắn hạn liên quan đến việc ngăn chặn tự sát sau đây:

  • Đặt câu hỏi, Thuyết phục, Giới thiệu / Chuyển gửi (Question, Persuade, Refer [QPR])
  • Trò chuyện an toàn (safeTALK)
  • Chương trình đào tạo ứng dụng kỹ năng can thiệp tự sát (ASIST)
  • Chương trình phòng ngừa tự sát ở môi trường làm việc (Working Minds)

Bằng cách đầu tư vào các kỹ năng và khóa đào tạo này, bạn có thể cho một cá nhân đang gặp khó khăn biết rằng họ được nhìn nhận, họ được quan tâm và họ quan trọng. Có nhiều lý do chính đáng khiến mọi người không cảm thấy thoải mái khi tiết lộ ý định tự sát của mình, nhưng dù sao cũng không có bất kỳ lý do chính đáng nào nói rằng chúng ta không nên cố gắng giúp đỡ họ.

Đừng chờ đợi đến “khoảnh khắc thích hợp” để hỏi về tự sát; vì khoảnh khắc đó sẽ chẳng bao giờ đến đâu. Hãy cứ hỏi đi. Vì tự sát là một vấn đề nghiêm trọng, không ai nên giữ nó cho riêng mình.

Tác giả: Sally Spencer-Thomas, Tiến sĩ, là một nhà tâm lý học lâm sàng, một diễn giả quốc tế truyền cảm hứng và là một doanh nhân có tầm ảnh hưởng. Tiến sĩ Spencer-Thomas được chuyển đến làm việc trong lĩnh vực phòng chống tự sát sau khi anh trai cô, một doanh nhân ở Denver, chết vì tự sát sau một trận chiến khó khăn với tình trạng rối loạn lưỡng cực.

Lưu ý: Bài viết này ban đầu được xuất bản trên tạp chí Advocate ấn bản mùa đông năm 2018.

Lược dịch: Lan Anh

Hiệu Đính: Lyo Kiu + The Uranian

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Sự Khác Nhau Giữa Sức Khoẻ Tinh Thần Và Bệnh Tâm Lý

Tất cả chúng ta đều có sức khỏe tinh thần, tuy nhiên nó có thể thường bị hiểu thành cả bệnh tâm lý và hai khái niệm này rất khác nhau, chứ không phải kém quan trọng vì bệnh tâm lý (ảnh hưởng đến một trên bốn người trong đời) hoàn toàn có thể khiến một người trở nên suy sụp .

Alison Pay, giám đốc quản lý của Mental Health At Work (MHAW) [Tạm dịch: Sức khỏe tinh thần tại nơi làm việc], người vận hành những chương trình theo yêu cầu về sức khỏe tinh thần ở nơi làm việc đã nói rằng, việc hiểu đúng các khái niệm là bước quan trọng trong việc giảm sự kỳ thị và giúp đỡ lẫn nhau.

“Nhiều người, nhất là ở nơi làm việc, cảm thấy khó khăn khi dùng thuật ngữ sức khỏe tinh thần, một phần vì lo sợ về những nhầm lẫn xung quanh từ đó, nhất là với những người thường dùng nó để chỉ bệnh tâm lý,”.

“Nếu chúng ta có thể hiểu sự khác nhau giữa sức khỏe tinh thần và bệnh tâm lý và khoảng cách giữa chúng thì chúng ta mới có thể bắt đầu dẹp đi sự kỳ thị xung quanh hai từ này, đó cũng là bước đầu trong việc bình thường hóa những cuộc đối thoại về chủ đề trên.”

 Sức khỏe tinh thần là gì?

Sức khỏe tinh thần, được hiểu đơn giản là một thước đo trạng thái tinh thần, cũng như sức khỏe thể chất là thước đo của cơ thể chúng ta vậy. Nó có thể thay đổi theo ngày hay thậm chí theo giờ và nó bị ảnh hưởng bởi rất nhiều thứ trong cuộc sống cá nhân hay công việc của chúng ta, Aimee Gee, Trưởng ban tin tức tại Mind cho hay, có rất nhiều thuật ngữ từng được dùng để diễn tả sức khỏe tinh thần mà chúng có thể gây nhầm lẫn, một vài người thường gọi nó là “sức khỏe cảm xúc” trong khi số khác có thể gọi đó là “wellbeing” sự khỏe mạnh.  

Maggi Rose, điều hành viên cao cấp của MHAW giải thích rằng, hiểu đơn giản thì sẽ tốt hơn nếu chúng ta coi sức khỏe tinh thần tồn tại một cách liên tục. Nó có thể thay đổi dựa trên những yếu tố trong phong cách sống như việc chúng ta ngủ bao nhiêu, công việc áp lực thế nào, chúng ta có đang tập thể dục không và khẩu phần ăn của chúng ta như thế nào. Nó cũng có thể thay đổi  dù bạn có được chẩn đoán bệnh tâm lý hay không.

Rose mô tả một mũi tên vô hình trên biểu đồ tròn dưới đây. Khi ta ở trạng thái hạnh phúc hay hài lòng nhất, mũi tên sẽ ở phía tay phải – tuy nhiên, nếu các sự kiện trong cuộc sống khiến chúng ta buồn bã, áp lực và sang chấn hay nếu chúng ta không chăm sóc cho bản thân, mũi tên có thể đi xa hơn về phía giữa biểu đồ – về phía có vấn đề về sức khỏe tinh thần.

Vấn Đề Về Sức Khỏe Tinh Thần Là Gì?

Theo MHAW, một vấn đề về sức khỏe tinh thần là khi một người cho thấy những dấu hiệu có một thứ gì đó không đúng với họ – họ có thể khóc lóc, lo âu hay nóng giận về điều gì đó hoặc họ cũng có thể rút lui khỏi những tình huống ấy.

Theo Quỹ Sức Khỏe Tinh Thần [the Mental Health Foundation], cho biết phần lớn mọi người trải qua vấn đề sức khỏe tinh thần có thể hồi phục được (hay học được cách sống với nó), nhất là nếu họ có được sự giúp đỡ sớm. Trong biểu đồ tròn trên đây, mũi tên có thể đi về phía bên phải.

Cách chúng ta phục hồi sau một số tình huống đôi khi được xem là khả năng phục hồi tinh thần hay sức mạnh tinh thần, có thể khác nhau giữa người với người. Một số người có thể đương đầu được với những áp lực cuộc sống,, số khác có thể gặp khó khăn để làm việc đó, thường là vì những lý do vượt ngoài tầm kiểm soát của họ.

Bệnh Tâm Lý Là Gì?

Khi vấn đề sức khỏe tinh thần bắt đầu chi phối một cách nghiêm trọng cuộc sống của một người – ảnh hưởng công việc, mối quan hệ, học tập hay cuộc sống xã hội – MHAW xem đó là một bệnh tâm lý. Rose nói rằng: “Có nghĩa là một người không thể làm những việc mà họ sẽ làm, nên làm hay có thể làm trong cuộc sống của mình”. Trên biểu đồ, mũi tên sẽ đi chuyển về phía bên trái.

Bệnh tâm lý ảnh hưởng đến khả năng vận hành mỗi ngày. Lo âu, trầm cảm, rối loạn ăn uống, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực và rối loạn nhân cách đều được xem là bệnh tâm lý.

Biểu đồ ở trên cho ta thấy một góc nhìn đơn giản về một mảng vô cùng nhiều sắc thái trong cuộc sống mà chúng ta vẫn chưa hoàn toàn hiểu hết.  Tất nhiên có những yếu tố gây ra bệnh tâm lý mà con người không thể kiểm soát được chẳng hạn như di truyền và hoàn cảnh sống. Tuy nhiên Pay nói rằng, biểu đồ được thiết kế nhằm thể hiện bệnh tâm lý và sức khỏe tinh thần không hề giống nhau. Hiểu sự khác biệt này có thể giúp mở ra nhiều cuộc thảo luận hơn về chủ đề trên, từ đó giúp giảm thiểu sự kỳ thị và tủi hổ.

Emma Carrington, giám đốc mảng tư vấn thông tin tại Rethink Mental Illness đề xuất rằng “bệnh tâm lý” nên là một khái niệm “ô dù” cho hàng loạt các tình trạng khác nhau gây ảnh hưởng lên cách một người suy nghĩ và cảm nhận.

“Giống như bao bệnh khác, bạn có thể sẽ cần điều trị bằng thuốc để kiểm soát các triệu chứng”. “Việc điều trị có thể sẽ dùng thuốc nhưng cũng sẽ có các buổi trị liệu bằng lời và giáo dục kiến thức”. Một số người có thể hoàn toàn hồi phục, trong vài trường hợp bệnh tâm lý có thể sẽ không khỏi nhưng nếu nhận được sự hỗ trợ đúng đắn, họ vẫn có thể kiểm soát được cuộc sống của mình.

Aimee Gee từ Mind đã nhận định: “Vấn đề sức khỏe tinh thần” và “bệnh tâm lý” là những khái niệm thường được sử dụng một cách chồng chéo. “Một số người sẽ sử dụng “vấn đề sức khỏe tinh thần” để mô tả triệu chứng/trải nghiệm của mình, số còn lại sẽ sử dụng “bệnh tâm lý”. “Tại Mind chúng tôi thường sử dụng “vấn đề sức khỏe tinh thần” sau khi đã thảo luận với rất nhiều người về câu hỏi “Mọi người cảm thấy thoải mái nhất với cách nói nào?”. Tuy nhiên, từ nào phù hợp nhất vẫn nằm ở quyết định của mỗi cá nhân.

Dù bạn có cảm thấy như thế nào, tốt nhất là bạn vẫn nên nói về vấn đề mà bạn đang đối mặt thay vì giữ chúng trong lòng. Quan tâm đến sức khỏe tinh thần của mình nên được coi trọng như việc quan tâm đến sức khỏe thể chất vậy.

Pay nói thêm: “Thêm một điều quan trọng nữa là bạn nên trao đổi nếu thấy lo lắng cho một người khác”. “Nếu bạn thật tâm cảm thông, hãy hỏi người đó họ đang như thế nào, dành thời gian lắng nghe, đôi khi vậy là đủ để họ bắt đầu hành trình hồi phục lại sức khỏe tinh thần của mình.”

Nguồn: HuffPost
Tác giả: Natasha Hinde – Life reporter at HuffPost UK
Lược dịch: The Givers Team

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Sự Đau Buồn Thông Thường và Sự Đau Buồn Do Sang Chấn

Vào một buổi sáng cách đây 20 năm, anh trai tôi đã bất ngờ qua đời. Anh ấy 37 tuổi, khỏe mạnh, đã có vợ và hai con. Thời điểm đó tôi vốn đã là một cựu chiến binh, đang trải qua sang chấn và sống với toàn bộ các triệu chứng PTSD từ những gì xảy ra trong quá khứ.

Cái chết của anh trai khiến cho tôi và các thành viên trong gia đình trở nên suy sụp. Gia đình chúng tôi vốn đã phải đương đầu với một số mất mát và khó khăn trước đây, nhưng lần này thì khác. Anh trai tôi vốn dĩ đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ chúng tôi đối phó với những thách thức về sức khỏe và tài chính. Việc mất anh ấy đã tạo nên hiệu ứng domino cực lớn và cấu trúc gia đình bền chặt của chúng tôi đã bắt đầu mờ nhạt.

Tôi đã suy sụp, tê liệt và sợ hãi khi phải hòa nhập vào cuộc sống. Tôi dốc hết sức mình vào công việc, việc đó giúp tôi nhìn thấy ý nghĩa và mục đích sống. Ngày qua ngày, tôi sống sót được nhờ có các deadline và công việc liên tục ập đến, chúng giúp tôi thức dậy vào buổi sáng và tập trung vào những việc khác. Tuy nhiên, tôi vẫn không hòa nhập được với cuộc sống.

Sự Thống Trị của Nỗi Sợ

Gần 4 năm sau, tôi nhận được học bổng Fulbright để theo đuổi chương trình thạc sĩ tại Hoa Kỳ, tôi rất sợ phải đi. Tôi thực sự không muốn đi, nhưng tôi cũng không muốn ở lại. Tôi cảm thấy tê liệt, sợ hãi và không nhận ra rằng niềm đam mê học tập, việc tìm kiếm ý nghĩa và mục đích chính là biểu hiện của niềm đam mê sống của tôi. Nỗi sợ hãi đã thống trị đến mức, nó che lấp hầu hết mọi thứ khác.

Bất chấp nỗi sợ hãi, tôi đã chuyển đến Mỹ. Tôi tự nhủ rằng chắc chắn sẽ quay lại sau vài tháng nữa, nhưng ít nhất tôi sẽ biết rằng tôi đã thử tới đây.

Khi ở Mỹ, tôi cảm thấy xa rời mọi thứ và mọi người tôi biết. Tôi đang ở một thành phố miền núi nhỏ và ít nhất là với tôi – xa xôi. Các triệu chứng PTSD đầy đủ lại bùng phát và tôi mất cảm giác thèm ăn.

Có thể tôi sẽ chỉ ăn một ít thứ. Không phải là tôi quyết định không ăn, mà là tôi không thể ăn. Rất nhanh tôi nhận ra mình đang trải qua những phản ứng sinh tồn bản năng đến từ những trải nghiệm sang chấn trước đó.

Sang chấn Là Mấu Chốt Còn Thiếu

Bước đầu tiên giúp được tôi chính là tìm hiểu về sang chấn và cách nó ảnh hưởng đến phản ứng sợ hãi của tôi. Tôi bắt đầu trị liệu trở lại. Lần đầu tiên trong đời, nhà trị liệu nói với tôirằng tôi đã bị sang chấn. Cùng lúc đó, tôi theo học lớp “Giới thiệu về Sang chấn” và được giới thiệu về các tác phẩm của Peter Levine (một cuốn sách năm 1997) và Van der Kolk (một bài báo năm 1994). Thật khó để tin rằng những bài viết này có ý nghĩa như thế nào đối với tôi và hoàn cảnh cuộc sống của tôi bấy giờ. Điều đó đã đánh dấu một bước ngoặt lớn dẫn đến việc tôi trở thành một nhà trị liệu và một học giả nghiên cứu về sang chấn tâm lý.

Khi tôi bắt đầu xem xét sang chấn từ góc độ trị liệu, càng ngày tôi càng cảm thấy cần phải có một khuôn khổ nhất định.

Dr. Odelya Gertel Kraybill Expressive Trauma Integration™

ETI Roadmap After Trauma
Nguồn: Dr. Odelya Gertel Kraybill Expressive Trauma Integration™

Ngoài ra, trải nghiệm của chính tôi đã chỉ ra cách mà sang chấn có thể ảnh hưởng lên mọi mặt nhiều như thế nào. Hầu như mọi khía cạnh trong cuộc sống của tôi đều bị thay đổi theo nhiều cách đau đớn – từ cách tôi ăn uống đến cách ngủ, giao tiếp xã hội, tập thể dục, nghe nhạc và hơn thế nữa. Tôi muốn một cách tiếp cận can thiệp công nhận và giải quyết tất cả các mặt này.

Dần tôi nhận ra thêm một mục tiêu quan trọng thứ ba: ảnh hưởng lâu dài của việc can thiệp – tính ổn định của cá nhân. Trong hành trình của chính mình, tôi phát hiện ra rằng thường thì một cách tiếp cận mới sẽ giúp tôi cảm thấy tốt hơn trong một thời gian ngắn, nhưng sau đó nó sẽ mất dần tác dụng/ Từ việc đọc tài liệu và làm việc với thân chủ, tôi nhận ra đây là một vấn đề phổ biến đối với những người sống sót từ sang chấn. Tôi thấy rằng cần phải có một khung phân tích và điều trị mà tại đó vấn đề này được công nhận và giải đáp cho cả tôi lẫn các thân chủ..

Công cuộc tìm kiếm này đã cho ra đời cái mà tôi gọi là cách tiếp cận hợp nhất diễn đạt san chấn (ETI – Expressive Trauma Integration). Cách này sử dụng khung lý thuyết là một chu kỳ có tính liên tục, nhằm mô tả những gì xảy ra sau sang chấn khi một người sống sót bắt đầu hợp nhất sang chấn ấy vào họ. Khung ETI hướng tới một cách tiếp cận tích hợp trong điều trị, kết hợp tất cả các khía cạnh của cuộc sống và tập trung vào việc xây dựng một tinh thần lành mạnh.

Kinh nghiệm của tôi với tư cách là một người sống sót sau sang chấn và bây giờ là một nhà trị liệu thuyết phục tôi rằng để điều trị sang chấn lâu dài cần phải nhắm vào các khía cạnh khác nhau của sức khỏe. Có nhiều phương thức hữu ích, nhưng khi sử dụng đơn lẻ từng phương thức, kết quả mang lại sẽ không nhất quán và thời gian có hiệu lực cũng bị giới hạn. Tuy nhiên, khi sử dụng theo cách tính hợp chúng có thể mang lại tác động mạnh mẽ kéo dài theo thời gian.

Đau buồn thông thường so với Đau buồn do sang chấn

Trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều trải qua nhiều loại đau buồn khác nhau. Tại một thời điểm nào đó, tất cả chúng ta rồi sẽ mất đi những người mà mình yêu quý, những năng lực từng có, những công việc, địa điểm mà mình từng yêu thích. Kubler-Ross mô tả đau buồn gồm 5 giai đoạn: Từ chối, Giận dữ, Mặc cả, Trầm cảm và Chấp nhận. Chúng ta có thể trải qua các giai đoạn này theo trình tự, cùng một lúc, hoặc cũng có thể chỉ trải qua một vài giai đoạn. Đau buồn rất phức tạp và mỗi người đều sẽ có trải nghiệm riêng của mình.

Đau buồn do sang chấn – đau buồn đi kèm với mất mát không đoán trước sẽ khác . Mất mát loại này sẽ kích hoạt các cơ chế sinh tồn hậu sang chấn khi chúng ta đang trải qua tang chế.

Sang chấn có tính bất ngờ đến cỡ nào? Điều đó không thể xác định được. Nó thay đổi từ người này sang người khác.

Học cách sống chung với nỗi sợ 

Sợ hãi là một phần của cuộc sống. Giống như hầu hết mọi người, tôi biết điều đó. Tuy nhiên, sau ngần ấy năm, vẫn có những khoảnh khắc tôi cảm thấy đông cứng cả người vì sợ hãi. Hai mươi năm trước vào tháng này anh trai tôi đã mất và tôi vẫn cảm thấy đông cứng khi nhớ lại khoảnh khắc tôi biết tin anh ấy qua đời.

Tiếp cận với những mất mát mang tính sang chấn này qua việc sử dụng cách tích hợp (vận động, tâm thần, âm nhạc, nghệ thuật) đã giúp tôi học cách tự điều chỉnh, giảm bớt căng thẳng hậu sang chấn và trạng thái áp lực. Không phải mọi thứ là sẽ hết hoàn toàn, không phải là sẽ giảm triệt để, nhưng đủ để có thể hòa mình vào cuộc sống, trải qua đau buồn mà không có các phản ứng chiến đấu/bỏ chạy hay đông cứng.

Tôi đã sử dụng liệu pháp tường thuật để vượt qua sang chấn của mình. Khi làm vậy tôi đã học cách điều chỉnh lại thế giới quan về bản thân và quá khứ của mình, tôi thay đổi cách mình định nghĩa về sự chữa lành, khả năng phục hồi và sự trưởng thành sau sang chấn.

Tiến tới Sự Hòa Hợp

Là một nhà trị liệu, mục tiêu chính của tôi với thân chủ thường là hỗ trợ họ đạt được sự hòa hợp với sang chấn. Nghĩa là sao? Ví dụ, đây là một bản tóm tắt rất ngắn gọn về cách (được viết tại thời điểm này, nhưng nó vẫn đang tiếp tục phát triển) tôi hiểu trải nghiệm sang chấn của mình sau nhiều năm nỗ lực hướng tới sự hòa hợp:

Từ tháng 9 năm 1999 cuộc sống tôi đã bị xáo trộn. Tôi là người sống sót sau một số sự kiện đau thương đồng thời cũng đang trải qua căng thẳng liên tục. Tôi đã mất những thứ mà tôi vẫn buồn vì đã mất đi, trong đó có những kỳ vọng nhất định về việc mọi thứ sẽ ra sao đối với tôi và gia đình tôi.

Dẫu cho có những mất mát như vậy nhưng trong thời gian này tôi đã làm được và đạt được nhiều điều mà tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình có thể hoặc thậm chí không dám hy vọng mình sẽ có được. Kết quả là, tôi đã nhận ra năng lực, sự sáng tạo và thậm chí cả những điểm yếu của mình, chúng đều là nguồn lực sống to lớn. Tôi đã tìm được cách sống cùng sang chấn mà vẫn mang lại ý nghĩa và mục đích không chỉ cho tôi mà còn cho nhiều người khác đang sử dụng cách tiếp cận ETI.

Nguồn: Psychology Today

Tác Giả: Odelya Gertel Kraybill, Tiến sĩ, là một nhà trị liệu và học giả sang chấn tích hợp, người viết blog và giảng dạy về hòa hợp sang chấn bền vững ở Hoa Kỳ và nước ngoài.

Lược Dịch: MDP.
Hiệu đính: Waan

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Làm Thế Nào Để Ngừng Ăn Uống Theo Cảm Xúc Như Một Cơ Chế Đương Đầu?

Bạn có sử dụng “thức ăn ngon” để đối phó với các vấn đề về cảm xúc không? Hãy sử dụng cách này thay vì điều đó.

Fotolia

Tôi đã từng biết một người đàn ông rất nặng ký (hãy gọi anh ta là Johnny), người đã ăn nửa tá hot dogs (bánh kẹp xúc xích) bất cứ khi nào anh ta cảm thấy quá tức giận, cô đơn, chán nản, lo lắng, hoặc buồn bã. Thật không may, anh ấy thường xuyên cảm thấy như vậy và tin rằng những cảm giác này cần dùng đến những bữa tiệc bánh kẹp của anh ấy để “đối phó”. Johnny vô cùng thích thú với món bánh kẹp, nhưng lại cực kỳ không hài lòng về cân nặng của mình, và các bác sĩ cũng vậy. Vì vậy, anh ấy đã tìm đến tôi để mong tìm thấy cách đối phó tốt hơn.

Ban đầu, tôi đưa cho Johnny chính xác những gì anh ấy yêu cầu. Tôi đã chỉ cho anh ấy một số kỹ thuật thở để giúp vô hiệu hóa hệ thống thần kinh giao cảm, hệ thần kinh  đóng vai trò mạnh mẽ trong việc tạo ra cảm giác rằng một người phải khẩn trương hành động theo ý muốn ăn quá nhiều. Tôi cũng giúp anh ấy gọi tên cảm xúc của mình một cách cụ thể hơn để anh ấy có được cảm giác kiểm soát nhiều hơn. Sau khi đã cung cấp cho Johnny những gì anh yêu cầu, tôi cũng giải thích rằng anh ấy có thể đang tiếp cận toàn bộ vấn đề với tư duy sai lầm.

Hãy chú ý, nếu bạn coi cảm xúc buồn bã là một “ngọn lửa”, thì cách phản ứng của Johnny là: “Tôi phải tống khứ nó đi!” Nhưng nếu bạn nghĩ về “lửa”, bạn vẫn có thể có một ngọn lửa thật dữ dội trong phòng khách của mình, nhưng miễn là nó được chứa trong cái một lò sưởi hiệu quả, ngọn lửa đó có thể thực sự trở thành trung tâm của cái lò sưởi và ngôi nhà. Mọi người quây quần quanh lò sưởi bên đống lửa bập bùng, chia sẻ những câu chuyện, những kỉ niệm. Chỉ khi có một lỗ hổng trên lò sưởi cho phép tia lửa và than hồng thoát ra ngoài thì đám cháy mới trở nên nguy hiểm.

Cũng tương tự, chỉ khi cảm xúc được phép “nhảy” ra khỏi lò sưởi và trở thành những hành vi thực tế thì mới gây tổn hại đến sức khỏe của bạn, và điều này chỉ xảy ra khi một số kiểu biện minh lý trí khiến bạn thấy “OK” để hành động chống lại những kế hoạch chi tiết nhưng có vẻ vô ích trước đó.

Nó chỉ ra rằng khi bạn đưa ra một quy tắc rất cụ thể để hoàn thành một mục tiêu sức khỏe quan trọng, hầu như luôn có một tiếng nói biện minh diễn ra để hợp lý hóa việc vượt qua ranh giới mà bạn đã thề sẽ không vượt qua, ngay cả khi bạn không ý thức về sự hợp lý hóa này vào thời điểm đó. Điều đó chắc chắn sẽ xảy ra, bởi vì nếu ranh giới đó không quan trọng với bạn thì bạn đã không làm điều đó ngay từ đầu. Bộ não có ý thức của bạn sẽ không cho phép bạn vượt qua nó trừ khi bạn có lý do chính đáng xuất hiện ngay thời điểm đó.

Ví dụ, Johnny đã đưa ra quy tắc cho bản thân là không được ăn quá ba chiếc bánh kẹp mỗi ngày. Chúng ta có thể tranh luận về giá trị của chính quy tắc, nhưng với mục đích thảo luận của chúng tôi, chỉ cần lưu ý rằng anh ấy đã đưa ra quy tắc. Khi quy tắc đã được áp dụng, tiếng nói của sự hợp lý hóa trở nên rõ ràng hơn nhiều trong đầu Johnny, bởi vì anh ấy có thể dễ dàng nhận ra khi nào anh ấy đang cân nhắc vượt qua ranh giới.

Tôi yêu cầu Johnny xác định bất kỳ suy nghĩ nào mà anh ấy hiện lên trước khi vượt qua ranh giới đó. Anh ấy đã nói rằng có 4 điều sau đây: 

  • “Thật không thể chịu đựng nữa!” Tôi lẽ ra không nên kết giao với những người như thế này!” (thường là sếp của anh ấy). Cách duy nhất để đối phó là ăn nhiều bánh kẹp hơn. “
  • “Bạn đang chết đói. Bạn phải ăn một thứ gì đó đi chứ. Thêm bánh kẹp là sự lựa chọn hiển nhiên rồi! “
  • “Hãy ăn đi, bạn đã tập thể dục sáng nay, và bạn có thể ăn được. Bạn có thể bắt đầu lại vào buổi sáng!”
  • “Bạn sẽ không bao giờ tìm thấy tình yêu thực sự. Thứ duy nhất làm cho cuộc sống đáng giá là những chiếc bánh kẹp. Hãy ăn nhiều hơn nữa!”

Đây là những suy nghĩ rất cụ thể đang “chọc một lỗ trong lò sưởi của anh ấy”, biện minh cho việc vượt qua ranh giới và hành động trên cảm xúc theo cách tiêu cực (tức là ăn nhiều bánh kẹp hơn). Để giúp ngăn chặn hành vi này, tôi đã giúp Johnny tranh tranh luận một cách cụ thể với từng hành vi:

1. Nghĩ: “Thật không thể chịu đựng được nữa! Tôi không nên kết giao với những người như thế này (thường là sếp của anh ấy). Cách duy nhất để đối phó là ăn nhiều bánh kẹp hơn. “

Tranh luận: “Hầu như ai cũng phải ngậm ngùi nuốt trôi vài vố khó đỡ của cấp trên. Bên cạnh đó, ăn bánh kẹp không phải là cách duy nhất để đối phó. Tôi có thể tập luyện trong phòng tập thể dục, đi dạo, thực hiện một số bài tập thở hoặc chỉ ngồi với cơn tức giận cho đến khi nó qua đi … điều này hầu như luôn nhanh hơn tôi tưởng rất nhiều. “

2. Nghĩ: “Bạn đang chết đói. Bạn cần phải ăn một thứ gì đó. Thêm bánh kẹp là sự lựa chọn hiển nhiên! “

Tranh luận: “Còn lâu lắm tôi mới chết đói. Tôi đang thừa cân, và sẽ không ai thấy tôi gầy trơ xương vào sáng ngày hôm sau nếu tôi không ăn thêm bánh kẹp ngay bây giờ.” Bên cạnh đó, tôi có thể ăn rất nhiều thứ khác để cung cấp calo và dinh dưỡng cho cơ thể. Tôi có thể chọn bất kỳ món nào trong mấy món chính của mình. Protein từ thịt, yến mạch, gạo, đậu, v.v. Tôi có thể ăn, chỉ không phải là ăn thêm bánh kẹp!”

3. Nghĩ: “Hãy ăn đi, sáng nay bạn đã luyện tập rất nhiều và bạn có thể ăn nó. Bạn có thể bắt đầu luyện tập lại vào buổi sáng hôm sau!”

Tranh luận: “Sáng nay tôi tập luyện chăm chỉ, vì tôi muốn chăm sóc bản thân và thay đổi cấu tạo cơ thể, không vì thế mà tôi có thể ăn nhiều bánh kẹp.” Bên cạnh đó, nếu tôi say mê và vượt qua giới hạn ngày hôm nay, nguyên tắc thần kinh khả biến cho biết ngày mai tôi sẽ gặp khó khăn hơn trong việc giữ vững giới hạn. ‘Các mô hình lặp lại của hoạt động thần kinh sẽ xây dựng nên cấu trúc thần kinh’, vì vậy tôi chỉ làm cho cơn nghiện trở nên mạnh mẽ hơn. Thời điểm duy nhất để bạn có thể khỏe mạnh là ngay bây giờ, và tôi luôn tận dụng khoảnh khắc hiện tại để được khỏe mạnh!”

4. Suy nghĩ: “Bạn sẽ không bao giờ tìm thấy tình yêu thực sự. Thứ duy nhất làm cho cuộc sống đáng giá là những chiếc bánh kẹp. Hãy ăn nó nhiều hơn nữa!”

Tranh luận: “Béo phì làm cho cuộc sống ít đáng giá đối với tôi. Điều khiến nó đáng giá hơn là khi có thể mặc bất cứ thứ gì trong tủ đồ của mình, có năng lượng để chơi với những đứa trẻ trong nhà, có thể đi bộ đường dài và cảm thấy tự tin hơn vào ngoại hình của mình để tôi có nhiều khả năng tiếp cận nữ giới hơn và thực sự tìm thấy tình yêu! “

Lúc đầu, Johnny cảm thấy mình không thể chống lại những suy nghĩ này mặc dù anh có thể xác định được chúng. Vì vậy, tôi đã yêu cầu anh ấy mang theo một tấm thẻ nhỏ với các tranh luận cụ thể cho từng vấn đề, và tôi yêu cầu anh ấy ghi lại một cuốn nhật ký nhỏ vào mỗi buổi sáng, nơi anh ấy viết ra mọi lý lẽ hợp lý mới mà anh ấy cảm thấy đang ấp ủ trong đầu. Sau một thời gian, những suy nghĩ này mất đi sức mạnh của chúng, và Johnny thực sự mắc kẹt với quy tắc ba cái bánh kẹp của mình.

Bây giờ, bạn có thể không phải vật lộn với bánh kẹp như Johnny đã từng. Trên thực tế, theo nghiên cứu của chúng tôi, nhiều khả năng bạn phải vật lộn với pizza, khoai tây chiên, đường, bánh mì hoặc sô cô la. – Có sao đâu. Những gì bạn muốn làm là xác định một ranh giới rõ ràng cho bản thân để bạn có thể nghe thấy tiếng nói của sự hợp lý hóa trong đầu mình. Sau đó, tranh luận chi tiết với giọng nói đó dưới mọi hình thức của nó.

Điều này sẽ cung cấp cho bạn vài giây trong thời điểm bị cám dỗ thời để thức tỉnh và đưa ra lựa chọn tốt hơn, hoặc chí ít cũng cho bạn cơ hội để thở và suy nghĩ về nó.

Đây chỉ là một phần của hệ thống khắc phục tình trạng ăn uống quá độ do cảm xúc. Để biết thêm thông tin, hãy xem bài đăng trước đây của tôi, “Làm thế nào để ngăn chặn việc ăn uống vô độ trong ba bước không thông dụng.”  

Nguồn: Psychology Today
Tác giả: Dr. Glenn Livingston, nhà tâm lý học, tác giả của cuốn Never Binge Again.
Lược dịch: The Givers Team

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Những Điều Không Ai Nói Với Bạn Về Việc Trị Liệu

Một điều đáng buồn là khi tôi đi du lịch vòng quanh châu Á, và đặc biệt là ở Việt Nam, một trong những phản ứng đầu tiên mà tôi nhận được từ những người ở đây khi tôi nói với họ tôi là một nhà trị liệu tâm lý đó là: ‘oh, vậy bạn biết bây giờ tôi đang nghĩ gì không?’ Tất nhiên câu trả lời cho câu hỏi đó là: “không! Tôi không phải là một người đọc suy nghĩ.’. Tôi vẫn tự hỏi làm thế nào điều đó lại trở thành một niềm tin phổ biến  như vậy.

Đây chỉ là một ví dụ về những định kiến (những niềm tin tiêu cực) trong tham vấn hoặc trị liệu tâm lý. Một vết nhơ định kiến khác trong một số vùng ở Mỹ, ví dụ, có nhiều hơn sự xấu hổ, ngượng ngùng trong ý nghĩ về việc sẽ tìm đến một người lạ nhờ giúp đỡ.

Tôi hy vọng một phần ít nhất của bài viết này có thể một phần nào đó giúp mang lại một số kiến thức cho người dân này về thực tế của việc trị liệu. Hãy nhìn nhận xem trị liệu là gì và không phải là gì.

Street sign with the word 'PSYCHOTHERAPY'

TRỊ LIỆU KHÔNG PHẢI LÀ ĐỌC SUY NGHĨ CỦA BẠN:

1) Được rồi đây là một điều hiển nhiên, nhưng rõ ràng sẽ cần được nói đến: Trị liệu không phải là đọc suy nghĩ của một ai đó. Nếu bạn lựa chọn đi đến trị liệu, những điều mà nhà trị liệu của bạn biết đó là những gì mà bạn đã từng chia sẻ mà thôi. Nhà trị liệu của bạn không cố gắng lôi kéo hay lừa lọc bạn bằng bất kỳ cách nào. Nhà trị liệu muốn bạn cảm thấy tốt hơn và có một mối quan hệ rõ ràng (cởi mở và thành thật).

Khi mối quan hệ giữa bạn và nhà trị liệu có tiến triển, theo thời gian, nhà trọ liệu chuyên nghiệp của bạn sẽ bắt đầu hiểu rõ hơn những giá trị của bạn, tại sao bạn bạn lại lựa chọn như vậy, và những lựa chọn này ảnh hưởng như thế nào đến các mối quan hệ của bạn. Một trong những điều thú vị về việc trị liệu đó là nhà trị liệu được phép tiếp cận vào thế giới nội tâm của bạn, dần dần hiểu bạn và các giá trị của bạn và có thể giúp bạn có cái nhìn đúng đắn khi cảm thấy lạc lối. Một điều mà bạn không cần phải lo lắng đó là việc nhà trị liệu biết bạn đang nghĩ gì. Nếu nhà trị liệu có thể đọc được suy nghĩ của bạn, việc này có phải là một điều kinh khủng không? Đúng, bạn đúng rồi đấy, sẽ kinh khủng lắm! Nhưng dù sao thì nhà trị liệu cũng sẽ đứng về phía bạn và mong muốn những gì tốt nhất dành cho bạn mà thôi.

NHÀ TRỊ LIỆU CỦA BẠN LÀ MỘT CON NGƯỜI THẬT (KHÔNG HOÀN MỸ):

1) Một nhà trị liệu giỏi là người đáng tin, thành thật và nhân từ. Nhà trị liệu của bạn có thể mắc phải những sai lầm. Họ sẽ không biết mọi thứ. Họ không dùng bằng cấp để che đậy con người thật của mình. Họ biết cách nói ‘Tôi không biết’ hay ‘Để tôi suy nghĩ về điều này’. Nhà trị liệu của bạn sẽ thận trọng trong việc đưa lời khuyên vì điều mà họ sẽ làm trong một tình huống nào đó không có nghĩa là nó sẽ phù hợp với bạn. Một nhà trị liệu có trình độ sẽ có mục đích tốt và biết thừa nhận những thiếu sót của mình. Họ sẽ không đặt bạn vào những tình huống có hại hoặc nguy hiểm, và sẽ luôn có những ranh giới chuyên nghiệp giữa nhà tham vấn và thân chủ. Vì vậy nhà trị liệu sẽ không tham dự đám cưới của bạn (mặc dù đôi khi vẫn có những ngoại lệ), hoặc sẽ không trị liệu trong bữa tối.

Mối quan hệ nên mang lại cảm giác chuyên nghiệp, trong đó có hai con người chân thành cùng nhau định hướng cái thứ điên rồ mang tên “cuộc sống” này. Tất nhiên, nhà trị liệu sẽ không mặc cả chuyện tiền nong với bạn (trị liệu cho bạn nhằm đổi lại điều gì đó từ bạn), họ không được đề nghị bất kỳ một kiểu quan hệ thân mật nào hơn. Nếu những điều này xảy ra, thân chủ nên cân nhắc việc chấm dứt mối quan hệ ngay lập tức. Có vẻ như đây là một quyết định dễ dàng, nhưng trong bất cứ ngành nghề nào, cũng có người giỏi và có người không. Ví dụ, tại California, có một đề xuất cho rằng khi bắt đầu trị liệu, nhà trị liệu nên đưa cho thân chủ một quyển sách nhỏ tên ‘Trị liệu sẽ không bao gồm hành vi tính dục.’ Thật điên rồ mà!

A cozy office space, ideal for counseling or psychotherapy.

TRỊ LIỆU KHÔNG LOẠI BỎ VẤN ĐỀ CỦA BẠN:

2) Trị liệu không loại bỏ các vấn đề của thân chủ. Đối với nhiều nhà trị liệu, đã có không ít lần thân chủ đến trị liệu và dừng đến, thậm chí chỉ sau một phiên vì họ rời khỏi phiên mà không thấy có gì thay đổi. Gần đây, một thân chủ của tôi trong phiên đầu tiên đã cùng tôi liệt kê những điều sai trái, và Khi thân chủ thấy rõ rằng tôi không có cách nào loại bỏ được các vấn đề này, tôi nhận được cái nhìn vô cùng ngỡ ngàng ngơ ngác.

Tôi chỉ có thể hình dung cuộc độc thoại nội tâm của thân chủ trong thời điểm đó: ‘Tôi bỏ ra nhiều tiền như vậy mà anh ta không giúp tôi giải quyết được mấy chuyện này sao?!’ Nhà trị liệu không có một loại thuốc ma thuật nào và cũng không thể búng tay là vấn đề của bạn sẽ biến mất. Những gì họ có thể làm là giúp bạn nhận ra được cách bạn hiểu và giải quyết vấn đề một cách sai lệch của mình. Sau đó họ sẽ giúp bạn có những quan điểm, kỹ năng và các công cụ mới để bạn có thể bắt đầu cảm thấy tốt hơn. Freud đã từng nói: ‘Kết quả tốt nhất mà trị liệu mang lại đó là sự đau khổ bình thường của con người’.

TRỊ LIỆU LÀ MỘT ĐIỀU SINH ĐỘNG:

2) Trị liệu nên mang lại cảm giác sống động. Đôi khi những khoảnh khắc hữu ích nhất là khi có cảm xúc cao trào (xúc động), mãnh liệt (cảm giác mạnh), hay kích thích suy nghĩ (đạt được những hiểu biết sâu sắc). Nếu trải nghiệm trị liệu của bạn có cảm giác nhàm chán và hời hợt, bạn chỉ nói về một ngày của mình, hoặc thậm chí tệ hơn nữa là nói về một ngày của nhà trị liệu (haha) thì đó mới là vấn đề. Một nhà trị liệu giỏi không chỉ đơn giản là lắng nghe với vẻ mặt vô cảm và hỏi ‘Điều đó làm bạn cảm thấy như thế nào?’ Mặc dù sẽ có lúc chúng ta đụng đến câu hỏi này (ví dụ thân chủ đang tránh né một số cảm xúc nhất định), một nhà trị liệu thường sẽ quan tâm đến cách sinh hoạt hơn là cảm giác của bạn. Nói cách khác, những thách thức trọng yếu trong mối quan hệ của bạn là gì? Điều gì ẩn sau các lựa chọn có vấn đề của bạn? Trải nghiệm ấy khơi gợi lại trong bạn điều gì? Một nhà trị liệu giỏi sẽ mang lại cảm giác giống như một đối tác kết hợp với bạn để tìm cách đối phó tốt nhất với những thách thức trong cuộc sống. Một nhà trị liệu có thể giống như một người hướng dẫn, đưa ra một lộ trình, về cách mà bạn nên tiếp cận với những khó khăn của mình. Trị liệu phải mang lại cảm giác đáng tin, chân thực, dễ tổn thương và sống động!

A board with a quote saying 'Difficult Roads Lead To Beautiful Destinations.'

TRỊ LIỆU KHÔNG DỄ DÀNG: 

3) Trị liệu không dễ đâu! Một nhà trị liệu có kỹ năng sẽ thách thức bạn bằng những câu hỏi khó đòi hỏi bạn phải thành thật một cách tàn nhẫn với bản thân. Thêm nữa, trị liệu hầu như sẽ gợi ra những cảm giác, cảm xúc đau khổ mà bạn không muốn đối phó. Học cách đối mặt với những cảm xúc khó khăn mới là một trong những lợi ích lớn nhất của trị liệu.

Trị liệu đòi hỏi phải có nỗ lực. Nhà trị liệu có thể cho bài tập về nhà hoặc một số đề xuất mà TC cần luyện tập. Nếu thân chủ đến trị liệu và mong đợi nhà trị liệu làm hết mọi việc, thân chủ sẽ dễ sớm kết thúc việc trị liệu và thất vọng về kết quả nhận được (hoặc thất vọng vì không có kết quả). Việc tốt nhất mà chúng ta có thể làm cho chính mình thực chất rất đơn giản nhưng sẽ không dễ thực hiện. Cách chữa lành tốt nhất chính là hoàn toàn cho phép bản thân tổn thương khi ở bên một người. 

Việc này làm nảy sinh đủ mọi vấn đề, trong số đó có cảm giác dễ bị tổn thương khi gần gũi và sợ bị từ chối. Khi chúng ta có thể luyện tập việc thừa nhận và tìm hiểu về nỗi sợ, về khó khăn của mình với một nhà trị liệu, chúng ta sẽ dần có được tự tin và kỹ năng để làm điều đó với những người khác. 

Man sitting on couch with his head in his hand during a counseling session.

TRỊ LIỆU CÓ TÍNH NGHỊCH LÝ:

3) Nghịch lý là những điều mà chúng ta cho rằng sai nhưng thật ra lại là đúng. Nói cách khác, nghịch lý là một phát biểu (hoặc khẳng định) đúng, mặc dù nghe thì có vẻ sai. Ví dụ: để trở nên toàn vẹn chúng ta phải làm trống chính mình (nghịch lý tâm hồn). Hoặc một ví dụ khác như: Để vượt qua nỗi đau thì phải trải qua nỗi đau (nghịch lý tâm lý), hướng về phía nỗi đau thay vì tránh né nó.

Điều mà chúng ta thường học được trong cuộc sống chính là rất nhiều thứ nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Chúng ta cố gắng kiểm soát hoàn cảnh của mình (Điều mà chúng ta thường học được, mua căn nhà đẹp, và có công việc thích hợp), để sau đó phải đối mặt với nỗi đau, rối loạn chức năng và các mối quan hệ tệ hại. Chúng ta tìm đến trị liệu để học cách chấp nhận dòng chảy cuộc sống thay vì bám dính vào suy nghĩ rằng cuộc sống của mình nên như thế này. Vậy nên chúng ta thường tìm thấy tự do khi biết chấp nhận (không có nghĩa là từ bỏ) thay vì luôn cố kiểm soát. 

Tương tự như vậy, đương đầu với khó khăn thay vì tránh né mới giúp bộc lộ những mặt mà chúng ta cần để tâm hơn. Nghịch lý cũng có thể là làm ngược lại với điều mà mình nghĩ trước đó. Một trong những trích dẫn yêu thích của tôi về nghịch lý là của Carl Rogers: ‘Nghịch lý của sự tò mò chính là càng chấp nhận được chính con người mình thì càng dễ thay đổi.’

Nguồn: Herosjourneytherapy.com
Lược dịch: The Givers Team

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Làm Thế Nào Để Tìm Được Nhà Trị Liệu Phù Hợp?

Tìm kiếm một nhà trị liệu phù hợp cũng giống như việc hẹn hò vậy.
Để tìm thấy “người đó”, bạn cần phải hẹn hò với nhiều người, “lướt” qua nhiều tùy chọn và hiểu từng đối tượng. Trong công cuộc tìm kiếm của riêng mình, tôi đã tìm hiểu về các nhà trị liệu qua mạng, nhưng càng tìm càng hoang mang hơn cả lúc đầu.

Tôi đã phải nhờ người bạn thân nhất của mình giới thiệu nhà trị liệu cho tôi sau khi hoàn toàn lạc lối và chẳng tìm được manh mối nào. Thật an toàn khi tìm kiếm sự trợ giúp từ một chuyên gia uy tín được nhiều người giới thiệu – giống như cách mà tôi kiểm tra những người bạn chung trên Facebook trước khi đồng ý hẹn hò vậy.

How to Find the Right Therapist - The New York Times

Đáng buồn thay, đó vẫn chưa phải là sự kết nối phù hợp. Nhưng sau 3 năm “hẹn hò” ròng rã, cuối cùng tôi cũng tìm được “Người đó”, và như với bất kỳ mối quan hệ thành công nào, cô ấy rất xứng đáng với sự chờ đợi của tôi. Đây là những gì tôi đã học được trong cuộc hành trình của mình.

Xác định kiểu nhà trị liệu mà bạn cần.

Tiến sĩ David D. Burns, trợ giảng giáo sư lâm sàng danh dự tại khoa tâm thần học và khoa học hành vi Trường Đại học Stanford cho rằng: Nếu bạn đang mắc các chứng như gặp cơn hoảng loạn, trầm cảm, rối loạn căng thẳng sau sang chấn hoặc rối loạn ám ảnh cưỡng chế, hãy tìm một nhà tâm lý học lâm sàng hoặc nhân viên xã hội thay vì tìm một bác sĩ tâm thần.

Nếu vấn đề là rối loạn lưỡng cực, rối loạn trầm cảm, rối loạn nhân cách chống đối xã hội, rối loạn nhân cách ranh giới hoặc tâm thần phân liệt, tốt nhất bạn nên đến gặp bác sĩ tâm thần hoặc nhà tâm lý học có kinh nghiệm đáng kể trong chuyên ngành đó. Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ đã đưa danh sách đầy đủ nhiều lựa chọn. Tùy thuộc vào công ty bảo hiểm mà bạn có thể bị hạn chế vào một số chuyên gia chỉ trong mạng lưới của bạn.

Mặc dù vai trò của nhà tâm lý học chủ yếu là chẩn đoán và sử dụng các liệu pháp đương đầu bằng lời, họ sẽ không loại trừ khả năng phải dùng thuốc từ bác sĩ tâm thần nếu bạn vẫn tiếp tục trải qua những đau đớn dữ dội. Đối với nhiều bệnh nhân, Dr. Burns cho biết, thuốc có thể quan trọng và thậm chí là cứu sống họ. (Kết hợp các buổi trị liệu thông thường với thuốc có thể giúp giảm triệu chứng bền vững hơn so với việc điều trị riêng lẻ – nhưng để theo đuổi lộ trìnhấy bạn sẽ cần trao đổi với nhà trị liệu của mình.)

Cảm thấy được kết nối

Tôi đã học được điều này một cách khó khăn và tốn kém, rằng tôi cần một liên minh trị liệu mạnh mẽ với nhà trị liệu của mình. Tôi cần một người ấm áp, đáng tin cậy và trong tầm giá của tôi, còn những người mà tôi đã gặp đều không có được những điều trên. Cuối cùng, tôi đã chia tay với nhà trị liệu tâm lý của mình bằng tin nhắn, và bơ nhà tham vấn rối loạn ăn uống của tôi. Sau đó qua một cuộc điện thoại căng thẳng, một nhân viên tiếp nhận tại Trung tâm Lo Âu và Trầm cảm Montreal đã dựa trên nhu cầu của tôi và kết nối tôi với một nhân viên công tác xã hội lâm sàng.

Angela, nhân viên công tác xã hội của tôi, đã sử dụng liệu pháp nhận thức – hành vi (CBT) để giúp tôi có được quan điểm sáng suốt. Cô ấy không nhìn chằm chằm vào đồng hồ để đợi phiên tham vấn kết thúc và thường giữ tôi lại vài phút để cùng so sánh những chiếc váy cưới và nhẫn đính hôn của nhau. Tôi bước ra khỏi phiên trị liệu và tự hỏi liệu có vi phạm đạo đức không khi nhắn tin cho cô ấy những điều vụn vặt trong ngày chỉ vì tôi biết cô ấy hiểu tôi. Tất nhiên, nhà trị liệu không cần phải trở thành người bạn tốt của bạn, nhưng bạn nên thấy thoải mái và chia sẻ những suy nghĩ và cảm xúc của mình với họ. Nếu không, hãy tìm nhà trị liệu khác.

Hãy coi cuộc hẹn đầu tiên như một buổi hẹn hò.

Không ai hẹn hò buổi đầu mà không kiểm tra profile Facebook của người kia cả, tương tự với việc lựa chọn nhà trị liệu. Trước khi thực hiện cuộc gọi đầu tiên, hãy tìm kiếm thông tin nhà trị liệu trên các trang giống Yelp, chẳng hạn như Vitals, ZocDoc và Healthgrades. Hãy để ý những nhận xét chung chung như “Nhà trị liệu tốt” hoặc vô số bài đánh giá bốn hoặc năm sao.

Michelle Katz, một y tá, người ủng hộ chăm sóc sức khỏe và là tác giả của cuốn sách “Healthcare for Less” cho biết sẽ rất đáng cân nhắc nếu nhận xét được viết chi tiết. Vì vậy thay vì đánh giá “Nhà trị liệu giỏi” thì một bài đánh giá đáng chú ý hơn sẽ là: “Tôi có bảo hiểm của Blue Cross và nhà trị liệu này thực sự đã dành thời gian cho tôi và làm việc với vấn đề bảo hiểm của tôi. Ngay cả khi bảo hiểm đã hết thì họ vẫn viết đơn bác bỏ và hỗ trợ tôi, đảm bảo rằng bên bảo hiểm sẽ chi trả cho tổng số phiên nhất định.” Sẽ tốt hơn nữa nếu bạn lướt nhanh và tìm ra một vài tài liệu nghiên cứu, khám phá, hội thảo hoặc giải thưởng gần đây của họ.

Theo Katz, hãy có sự hoài nghi trước những đánh giá tiêu cực. Nên nhìn vào kiếu viết Nhìn chung, cô Katz cho rằng nhà trị liệu nào dành thời gian trả lời các bình luận về họ thường sẽ quan tâm đến công việc và danh tiếng của họ.

Gọi điện cho nhà trị liệu trong vài phút và hỏi họ thích điều gì nhất khi làm tham vấn. Hỏi xem nhà trị liệu đã theo học trường nào, đảm bảo chứng chỉ công nhận đàng hoàng chứ không phải chứng chỉ trực tuyến. Hỏi về chuyên ngành của họ, lưu ý việc họ cảm thấy thoải mái đến đâu khi bạn chia sẻ vấn đề của mình. Hãy hỏi các giấy phép của họ và tra cứu chúng để đảm bảo rằng nhà trị liệu không có bất kỳ vi phạm nào (thông tin này sẽ có sẵn tại các hội đồng cấp phép của tiểu bang như hội đồng cấp phép này ở Pennsylvania). Câu hỏi cuối cùng, nhà trị liệu đã bao giờ tham gia trị liệu chưa?, “Đừng đi trị liệu với một người còn chưa trị liệu trên bản thân.”
Katz nói rằng: “Hãy coi nó như một buổi hẹn hò. Bạn sẽ biết sự khác biệt giữa việc cảm thấy lo lắng và cảm thấy “Ồ, điều này không ổn rồi”.

Tìm kiếm các tùy chọn giá cả phải chăng.

Theo một cuộc khảo sát gần đây của tổ chức phi lợi nhuận Mental Health America, 56% trong số 40 triệu người Mỹ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần không tìm cách đi điều trị chủ yếu vì không có đủ bảo hiểm và chi phí cao. Nhưng điều đó không hẳn là đúng.

Trước tiên, hãy xác minh những loại chứng nhận mà bảo hiểm của bạn chấp nhận, những chẩn đoán cần phải có là gì, loại tài liệu bạn cần thiết và số phiên mà bảo hiểm sẽ chi trả. Katz đề nghị hãy hỏi nhà trị liệu của bạn về tỷ lệ tiền mặt, bởi vì các khoản khấu trừ và các chi phí khác có thể làm cho bảo hiểm đắt hơn một cách đáng ngạc nhiên đấy.

Cô nói: “Hãy xem nó gần với mức bảo hiểm mà bạn sẽ chi trả đến bao nhiêu có thể bạn sẽ thấy rằng trả bằng tiền mặt sẽ rẻ hơn.” “Thật không may, nếu bạn trả theo tỷ giá tiền mặt, bạn có thể sẽ không sử dụng tỷ giá đó để chống lại khoản khấu trừ được.”

Hơn nữa, việc thương lượng với bên cung cấp bảo hiểm có thể sẽ phức tạp ngay cả trong trường hợp tốt nhất, vì vậy hãy suy nghĩ chút nào. Hãy hướng tới các tổ chức phi lợi nhuận, ở đó sẽ cung cấp nhiều chuyên gia nhiệt huyết và được cấp phép với chi phí thấp hơn. Các trường cao đẳng và đại học thường có các trung tâm y tế với các nhà trị liệu cho học sinh với mức giá cạnh tranh hơn cũng như các văn phòng sức khỏe tâm thần của tiểu bang hoặc quận.

Các nhà tham vấn trong quá trình đào tạo thường phải thực hành ít nhất 1.500 giờ trước khi nhận được giấy phép, có nghĩa là họ đôi khi sẽ đề xuất các phiên giảm giá trong quá trình được giám sát bởi một nhà trị liệu cấp phép. Đối với sinh viên (được giám sát bởi nhà lâm sàng) bậc thạc sĩ và tiến sĩ cũng vậy. Sau khi đã được cấp phép, một số thậm chí sẽ vẫn giữ mức giảm đó với thân chủ của họ như một hình thức thể hiện lòng trung thành.
Cô Katz nói: “Họ trở thành gia đình với bạn, vì vậy bạn có thể yêu cầu họ thực hiện kế hoạch thanh toán.

Tần suất và hình thức cũng có thể giúp hỗ trợ về mặt chi phí. Thay vì đi hàng tuần, bạn có thể đề xuất đi mỗi tháng một lần hoặc chuyển các phiên của bạn sang Skype hoặc email. Tương tự, các dịch vụ trị liệu trực tuyến như BetterHelp, 7 Cups of Tea, BlahTherapy và Talkspace là những lựa chọn thay thế hiệu quả.

Cô Katz cho rằng: “Mọi thứ đều có thể thương lượng, nếu một nhà trị liệu không sẵn sàng thương lượng với bạn, đặc biệt là sau khi bạn đã trị liệu với họ một thời gian rồi thì có lẽ họ không phù hợp với bạn đâu”.

Thảo luận về lịch trình.

Gặp nhà trị liệu một khoảng lâu không có nghĩa đó là mối quan hệ trị liệu hoàn hảo đâu. Dr Burns nhận định rằng mối quan hệ hoặc nhu cầu của bạn có thể thay đổi theo thời gian, hoặc sự nghiệp của nhà trị liệu có thể đi theo một hướng khác. Tương tự, đối với một số người, mục tiêu không phải là trả tiền cho các buổi trị liệu đến suốt đời mà là để giúp bạn phục hồi hoặc học cách đối phó tốt hơn với các vấn đề khiến bạn phải đến gặp nhà trị liệu ngay từ đầu. Khi còn thực hành, ông ấy đã theo dõi cảm giác tức giận, lo lắng và hài lòng bằng cách đưa một bài kiểm tra cho bệnh nhân trước và sau các phiên trị liệu. Khi làm như vậy, ông ấy đã nhìn thấy những cải thiện chỉ sau vài giờ.

Ông cho rằng: “Nếu con trai hoặc con gái của tôi bị trầm cảm, tôi muốn chúng đến gặp một nhà trị liệu, người có thể giúp chúng cải thiện đáng kể chỉ trong một vài buổi điều trị, chứ không chỉ để chúng suy ngẫm về cuộc sống của mình trong nhiều tháng hoặc nhiều năm mà không có gì thay đổi.” Tuy nhiên, đối với những người khác, tiến độ chậm và thận trọng, có người hỗ trợ về lâu dài sẽ tốt hơn. Cũng như những thứ khác, lịch trình tốt nhất là lịch trình mà bạn thảo luận với nhà trị liệu.

Nguồn: The New York Times
Tác giả: Marissa Miller
Lược dịch: The Givers Team

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Làm Sao Tôi Biết Nhà Trị Liệu Của Tôi Có “Hiệu Quả” Hay Không?

Bạn có thể sẽ gặp một người có bằng cấp từ một ngôi trường ấn tượng, viết nhiều về tâm lý học và bệnh tâm thần, có nhiều buổi diễn thuyết và hội thảo nhưng vẫn không phải là một nhà trị liệu hiệu quả.
Và mặc dù điều quan trọng đối với các nhà trị liệu là phải được giáo dục, đào tạo và cập nhật về các phương pháp thực hành ở hiện tại, không chỉ nền tảng và trình độ học vấn mà còn rất nhiều thứ nữa để trở thành một nhà trị liệu giỏi.


Bởi vì khoa học trị liệu là chủ quan nên sẽ khó để biết liệu mối quan hệ trị liệu của bạn có thực sự “hiệu quả” hay không.
Đây là danh sách về cách thực hành của những nhà trị liệu hiệu quả để giúp bạn xác định xem bạn có nhận được sự chăm sóc tốt nhất có thể hay không.

Họ có hướng dẫn bạn đạt được những mục tiêu của bạn không?

Hãy cảnh giác với bất kỳ nhà trị liệu nào đưa ra lời hứa như: “Tôi có thể giúp bạn hồi phục trong sáu tháng” hoặc “Tôi có thể giúp bạn thoát khỏi sự lo âu của mình.” Các nhà trị liệu nên hướng dẫn bạn đạt được những mục tiêu của bạn chứ không phải là đảm bảo về thời điểm và cách bạn sẽ đạt được chúng. Bạn cải thiện như thế nào phụ thuộc vào tốc độ của riêng bạn. Hơn nữa, họ không phải là người đặt mục tiêu cho bạn. Đây là việc điều trị của bạn – bạn là người chủ động.

Họ có thể hiện sự chấp nhận và lòng trắc ẩn không?

Thường thì nhà trị liệu của bạn sẽ thể hiện sự lo ngại hoặc khuyến nghị đối với một số hành vi nhất định, nhưng bạn không nên cảm thấy bị đánh giá hoặc xấu hổ sau một buổi trị liệu. Christine, một thanh niên sống chung với rối loạn nhân cách ranh giới (BPD), kể rằng cô cảm thấy xấu hổ với nhà trị liệu:
“Tôi đã đến gặp một nhà trị liệu để nói về một mối quan hệ mà tôi đã có một thời gian khó khăn để vượt qua. Tôi nói với cô ấy rằng tôi sẽ làm những điều kỳ quặc để giữ cho mối quan hệ đó tồn tại, mặc dù anh chàng đó đã nói rõ rằng anh ta không muốn dính líu gì với tôi. Nhà trị liệu này trả lời bằng cách nói: “Christine, đàn ông không thích phụ nữ bám víu. Bạn cần phải rụt rè và làm kiêu.” Cô ấy hoàn toàn không nhận ra rằng nỗi sợ hãi bị bỏ rơi của tôi đã được kích hoạt; đối với cô ấy tình huống này không liên quan gì đến BPD, tôi chỉ đang làm cho bản thân trở nên quá dễ dãi”.
Các nhà trị liệu hiệu quả nhất khiến bạn cảm thấy được chấp nhận và có giá trị, thể hiện sự thấu hiểu và đồng cảm / thấu cảm với bất cứ điều gì bạn đang trải qua. Họ sẽ tiếp cận bạn với lòng trắc ẩn và lòng tốt, đồng thời tạo đủ niềm tin để bạn có thể chia sẻ những suy nghĩ và ký ức đen tối nhất của mình với họ.

Họ có thử thách bạn không?

Điều quan trọng là phải nhận ra rằng trị liệu không đồng nghĩa với tình bạn. Một nhà trị liệu hiệu quả sẽ thử thách bạn và giúp bạn nhìn mọi thứ từ một góc độ khác, ngay cả khi điều đó thật khó nghe. Họ sẽ cho bạn bài tập mà bạn có thể sẽ không thích. Ví dụ, khi tôi cảm thấy lo âu, phản ứng của tôi là cố gắng thoát khỏi sự lo âu đó bằng mọi cách có thể. Vì vậy, nhà trị liệu của tôi thường nói với tôi “hãy ngồi lại với sự lo âu, chấp nhận rằng sự lo âu đã đến thăm bạn và quan sát bạn cảm thấy ra sao.” Cô ấy đẩy tôi ra khỏi vùng an toàn để giúp tôi vượt qua nỗi sợ hãi và hướng tới mục tiêu quản lý lo âu.

Họ có kiểm tra bạn không?

Nhà trị liệu của bạn cần phải kiểm tra bạn về việc bạn nghĩ rằng quá trình trị liệu đang diễn ra như thế nào. Sau khi cho tôi bài tập đầy thách thức, nhà trị liệu của tôi thường sẽ hỏi tôi xem nó diễn ra như thế nào hoặc liệu tôi thấy nó hữu ích hay không. Vì mỗi phiên được điều chỉnh cho phù hợp với bạn, một nhà trị liệu giỏi nên điều chỉnh phương pháp điều trị dựa trên phản hồi của bạn. Ví dụ, nếu bạn cảm thấy như họ thúc ép bạn làm điều gì đó mà bạn chưa sẵn sàng làm và bạn nói rằng bạn muốn các bước nhỏ hơn, dễ thực hiện được hơn, nhà trị liệu nên cân nhắc điều này cho các bài tập trong tương lai.

Họ có giúp bạn học không?

Một nhà trị liệu hiệu quả cung cấp những cách khác nhau để giúp bạn học các kỹ năng (chẳng hạn như quản lý cảm xúc khó khăn, xử lý tình huống căng thẳng hoặc thực hành chấp nhận), hiểu bản thân nhiều hơn và khuyến khích sự giao tiếp lành mạnh với những người trong cuộc sống của bạn. Christine nói: “Một nhà trị liệu đã giúp tôi thấy rằng khi tôi thích một người, dù đó là tình yêu hay tình bạn, tôi cũng sẽ rất khó nhận ra những dấu hiệu cảnh báo. “Cô ấy đã giúp tôi nhận ra điều này ở bản thân mình và giờ đây tôi thúc đẩy bản thân nhìn mọi người theo cách thực tế hơn”.
Đồng thời, điều này không có nghĩa là họ cho bạn biết phải làm gì từng bước một. Thay vào đó, chúng giúp bạn học cách xử lý những tình huống căng thẳng mà cuộc sống ném vào bạn. Sẽ có vấn đề nếu bạn cảm thấy phụ thuộc vào nhà trị liệu của mình.

Họ có thực hành năng lực văn hóa không?

Liệu pháp nên được điều chỉnh theo văn hóa, nền tảng và những nhu cầu cụ thể của bạn. Một nhà trị liệu giỏi là người hiểu rõ mọi rào cản văn hóa  mà bạn phải đối mặt và họ nên ghi nhớ những điều đó trong khi tư vấn cho bạn. Ryann, một người có nhiều trải nghiệm sống cho biết: “Khi tôi gặp nhà trị liệu của mình trong vài buổi đầu tiên, họ đã chú ý đến việc tìm hiểu về văn hóa của tôi và cách nó đã ảnh hưởng đến những trải nghiệm của tôi.”

Họ có đối xử bình đẳng với bạn không?

Một nhà trị liệu hiệu quả làm việc với bạn và hỗ trợ bạn. Họ là đối tác của bạn trong việc cải thiện sức khỏe tinh thần của bạn. Họ không phải là giáo viên hướng dẫn “những cách cư xử đúng đắn” hoặc cha mẹ đòi hỏi sự kỷ luật ở một đứa trẻ. Không nên có bất kỳ loại tranh giành quyền lực hay thái độ “bác sĩ biết biết điều gì là tốt nhất” trong cách cư xử của họ. Mặc dù bạn phải tôn trọng những kiến thức phong phú của họ, nhưng bạn cũng không nên cảm thấy thua kém nhà trị liệu của mình.
Trị liệu là một phần nhỏ trong cuộc sống của riêng bạn. Các nhà trị liệu không hiện diện để bày tỏ nhu cầu của riêng họ — họ hiện diện để giúp bạn đạt được những mục tiêu của mình. Giống như bất kỳ nỗ lực đáng giá khác, lợi ích của trị liệu  không xảy ra trong một sớm một chiều, nhưng theo thời gian, bạn sẽ cảm thấy như mối quan hệ trị liệu không có gì khác ngoài việc có lợi cho sự an lạc của bạn.

Nguồn: NAMI
Tác giả: Laura Greenstein
Lược dịch: The Givers

Đăng trong Tâm lý học thường thức

5 Lý Do Để Nói Về Sang Chấn

Là con người, có nhiều cá nhân ghê tởm cái ý tưởng về việc nói về những điều tồi tệ nhất đã từng xảy ra với chúng ta. Thảo luận về một trải nghiệm đau khổ có thể khiến ta thấy nhục nhã hoặc khiếp sợ. Chúng ta nghĩ rằng mình sẽ gục ngã và không bao giờ hồi phục, rằng chỉ chúng ta là những người trải qua điều đó và không ai khác có thể hiểu được.

Sang chấn không hề rõ ràng và trật tự – nó không được đóng gói gọn gàng rồi thắt nơ lại. Thay vì thế, nó lại gây hoang mang và hỗn loạn. Có thể chúng ta muốn nói về nó nhưng lại không biết phải nói gì hay nói như thế nào.

Tệ hơn nữa, khi quá trình hồi phục tự nhiên bị gián đoạn, kết quả sẽ là rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD). Đặc điểm cốt lõi của PTSD là sự né tránh – tránh khỏi bất cứ điều gì gợi ta nhớ về sự kiện đã xảy ra, bao gồm cả việc trao đổi về nó. Một vòng luẩn quẩn được hình thành.

Sang chấn thường diễn ra trực tiếp giữa người với người – hành hung, cưỡng hiếp, tội ác, bạo lực, sự tàn ác trong chiến tranh, xả súng hàng loạt. Thậm chí những sang chấn không hẳn có tính liên cá nhân, ví dụ như thiên tai hay các trường hợp cấp cứu y tế, cũng diễn ra trong bối cảnh xã hội. Cách thức những người khác phản ứng với sang chấn của bạn có thể đóng vai trò nhất định trong việc giúp bạn hồi phục hoặc khiến bạn phải chật vật với sang chấn. Ví dụ, nếu phản ứng ban đầu bạn nhận được là bị đổ lỗi, chỉ trích hoặc phủ nhận thay vì sự tin tưởng và trợ giúp thì khả năng hồi phục của bạn sẽ có thể bị ngăn trở.

Nhưng điều ngược lại cũng đúng. Giống với việc sang chấn diễn ra trực tiếp giữa người với người, hầu hết quá trình hồi phục cũng diễn ra giữa người với nhau.

Mỗi người đối phó với sang chấn theo những cách thức khác nhau. Tôi hoàn toàn không hề có ý đánh giá cách một người đối phó với sang chấn; những cách  như trút giận, phàn nàn hoặc nghiền ngẫm đôi khi có thể là điều cần thiết. Nhưng có một số cách bàn luận về sang chấn có thể xúc tiến quá trình hồi phục, mang lại sự thanh thản nhanh hơn.

5 Reasons to Talk About Trauma | Psychology Today

Mặc dù rất khó khăn nhưng có rất nhiều lý do để bàn luận về sang chấn. Dù bạn chọn kể về sang chấn qua một cuộc trò chuyện chân thành, thân mật hay nhiều cuộc thảo luận trải dài theo thời gian, thì sau đây là 5 lý do để bàn luận về sang chấn:

1.Để nhận được sự trợ giúp

Lướt qua một vài chương trình thời sự và bạn sẽ tìm thấy có rất nhiều sự kiện sang chấn ở mọi hình thức của nó – bạo lực có liên quan đến chiến tranh, tấn công tình dục, bạo hành trẻ em, bạo lực gia đình, xả súng trường học, thiên tai.

Sang chấn từng bị xem là điều hiếm có, thậm chí cho đến vài thập kỷ trước các chuyên gia về sức khỏe tâm thần còn định nghĩa sang chấn như một sự kiện “nằm ngoài trải nghiệm bình thường của con người”. Nhưng đó là trước khi có một nghiên cứu bước ngoặt vào năm 1995 đã phát hiện 61% đàn ông Mỹ và 51% phụ nữ Mỹ đã từng trải qua ít nhất một sang chấn. Nghiên cứu ấy đã bác bỏ quan niệm rằng sang chấn của con người không phổ biến. Giờ đây chúng ta thậm chí có thể coi đó là điều bình thường. Dù có thể đúng như vậy, sang chấn vẫn không phải là điều mà đa phần mọi người cảm thấy thoải mái để công khai.

Vì thế, một giải pháp cho nhiều người chính là hội nhóm những người sống sót. Hội nhóm những người sống sót có thể là một trong những cách tốt nhất để tìm thấy sự thấu hiểu và thấu cảm. Nếu bạn đang đồng thời trong quá trình hồi phục từ việc lạm dụng chất, những nhóm như nhóm nghiện rượu ẩn danh (Alcoholics Anonymous – AA) hay nhóm nghiện ma tuý ẩn danh (narcotics anonymous – NA) cũng sẽ có rất nhiều người sống sót từ sang chấn giống bạn.

Sự trợ giúp không nhất thiết phải đến từ một nhóm có tổ chức, nó có thể đến từ gia đình, bạn bè, một tình nguyện viên trực đường dây nóng hay một chuyên gia sức khỏe tâm thần. Nhưng có một điều gì đó ở nhóm những người đã từng trải qua chuyện tương tự có thể giúp mang lại cảm giác mới mẻ hơn cả.

Giống như Judith Herman, nhà tâm thần học lỗi lạc và tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Trauma and Recovery” [tạm dịch: Sang chấn và Hồi phục], đã viết: “Sang chấn gây cô lập; thì hội nhóm lại tái tạo “cảm giác thuộc về”. Sang chấn khiến ta thấy hổ thẹn và bị kỳ thị, thì hội nhóm lại giúp chứng thực và khẳng định. Sang chấn hạ thấp nạn nhân, hội nhóm phục hồi lại nhân tính của họ.”

Dù là sự công nhận, thấu hiểu, được nhìn thấy hay thấu cảm, trò chuyện với ai đó (hoặc những ai đó) hiểu chúng ta sẽ giúp những người sống sót loại bỏ được cảm giác bị cô lập.

2. Để những việc đã xảy ra trở nên có ý nghĩa 

Để giải quyết một sang chấn, về bản chất, là làm cho nó trở nên có ý nghĩa. Sang chấn không có nghĩa lý gì – nó là một mớ hỗn độn của cảm xúc, phản ứng và nghi vấn. Ta không thể tả xiết – nó giống như âm thanh gầm rống hơn là những từ ngữ.

Vì vậy, biến đổi những điều không thể tả xiết thành ngôn ngữ là một việc làm quan trọng giúp giải nghĩa sang chấn. Trao đổi với nhà trị liệu của bạn, với những người bạn hay người thân đáng tin cậy, hay, không kém phần thú vị, với quyển nhật kí của bạn, là khởi điểm tuyệt vời để bắt đầu và tiếp tục quá trình tiến triển của mình. Đôi khi để ngòi bút cất thay điều muốn nói lại là phương thức có tác động mạnh mẽ nhất để kiểm soát tiếng nói của bạn.

3. Để nhận ra bạn không chỉ có các sang chấn

Sang chấn đôi khi trông có vẻ như là điểm ngoặt của cuộc đời một người. Cuộc đời của chúng ta trước một vụ tấn công, tai nạn hay chiến tranh với cuộc đời sau đó là hoàn toàn khác nhau. Khi con người đạt đến mức độ định nghĩa bản thân họ qua sang chấn của mình, các nhà tâm lý học sẽ coi đó là sự kiện giữ vị trí trung tâm.

Một nghiên cứu thú vị của UNC-Charlotte đã phát hiện ra sự kiện giữ vị trí trung tâm có thể cùng là dấu hiệu xấu hoặc tốt. Sẽ là dấu hiệu xấu nếu sang chấn ấy lấn át nhân dạng của bạn – cũng giống như đôi khi những người bị bệnh mãn tính trở thành những “bệnh nhân chuyên nghiệp”, cuộc sống của một số người sống sót sau sang chấn bị định nghĩa chỉ qua sang chấn của họ.

Nhưng việc giữ vị trí trung tâm có thể là một dấu hiệu tốt khi những người sống sót đồng hóa sự kiện ấy vào nhân tính của họ. Nó trở thành một phần con người họ. Nó hình thành nên con người hiện tại của họ. Sang chấn giữ vị trí trung tâm trong cuộc sống của họ nhưng họ trở thành người chiến thắng hơn là một nạn nhân.

4. Để có cái nhìn thực tế 

Sang chấn khiến nhận thức về thế giới của chúng ta bị đảo lộn. Chúng ta nghĩ rằng đó là lỗi của mình. Chúng ta cho rằng không còn ai đáng tin nữa. Chúng ta nghĩ rằng nếu có ai đó hiểu con người thật của mình, ta sẽ bị bỏ rơi còn nhanh hơn cả một căn nhà trước biển trong mùa giông bão.

Nhưng bàn luận về sang chấn có thể vạch trần những niềm tin sai lầm này. Cụ thể là thảo luận với nhà trị liệu về việc sang chấn đã thay đổi quan điểm về thế giới có thể sáng tỏ những giả định của bạn và buộc bạn phải nghi vấn chúng, “Khoan đã, có lẽ lỗi nằm ở kẻ đã cưỡng hiếp tôi chứ không phải tôi”, hay “Chờ đã, có lẽ tìm kiếm sự giúp đỡ không có nghĩa là tôi yếu đuối”, hoặc “Khoan đã, sự việc đó xảy ra một lần không có nghĩa sẽ còn xảy ra nhiều lần nữa”.

5. Tạo dựng ý nghĩa

Tương tự như áp suất có thể khiến than đá trở thành kim cương, một người sống sót sau sang chấn có thể rút ra một điều gì đó ý nghĩa từ nó. Một nghiên cứu trong tạp chí Psycho-Oncology khảo sát 253 phụ nữ ung thư vú và đã phát hiện ra một điều trái ngược, rằng những người được chẩn đoán đã trải qua căng thẳng có liên quan đến ung thư và lo ấy thường sẽ vượt qua trải nghiệm ấy 6 tháng sau đó.

Vì sao? Sang chấn khiến cho chúng ta nhìn sâu vào bên trong mình. Mọi người chúng ta cố gắng hiểu nó và đánh giá lại điều gì là quan trọng đối với họ. Nhiều lúc, sang chấn sẽ làm sâu sắc hơn mục đích sống của chúng ta, gợi nhắc chúng ta chú tâm vào gia đình hay cộng đồng của mình, tạo dựng cho ta mục tiêu trao đi, trân trọng cuộc sống hoặc nhận ra điểm mạnh và tính kiên cường của chính bản thân.

Tóm tắt lại, hãy suy nghĩ và nói về sang chấn theo nhịp độ của riêng bạn. Những nghiên cứu về kỹ thuật debriefing – hay hỗ trợ con người thấu hiểu cảm xúc của họ chỉ vài ngày sau một trải nghiệm gây sang chấn tiềm tàng nào đó đã chỉ ra rằng nếu ai đó chỉ ở mức trung dung hay tệ nhất có thể có nguy cơ bị PTSD rất cao.

Giống như bất cứ hành trình dài nào, hãy đi theo nhịp điệu của chính bạn và đừng đi một mình. Có thể bạn sẽ cảm thấy có hàng triệu lý do để ở yên một chỗ và giữ im lặng, nhưng cũng có thêm hàng triệu lý do nữa để nói về những điều tồi tệ và tiến về phía trước.

Về tác giả
Ellen Hendriksen, Ph.D. là tâm lý gia làm việc tại trung tâm về rối loạn lo âu và các rối loạn liên quan của đại học Boston.
Nguồn: Psychology Today

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Làm Thế nào Để Thu Hút Mọi Người Ở Lại Điều Trị Sức Khỏe Tâm Thần?

Những căn bệnh tâm thần ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi tình trạng kinh tế – văn hóa, tuy nhiên, không phải người Mỹ nào cũng được tiếp cận với cách chăm sóc phù hợp như nhau. Ví dụ, chỉ có khoảng 20% người Mỹ gốc Á mắc bệnh tâm thần tiếp nhận điều trị, thấp hơn so với 48% người da trắng. Và chỉ khoảng 56% người Mỹ gốc Phi và người Mỹ Latin mắc bệnh tâm thần tiếp nhận điều trị, so với người da trắng là 71%.

Đó là tại sao Tháng Nhận Thức Về Sức Khỏe Tâm Thần Quốc Gia được thành lập vào năm 2008: Vấn đề không chỉ là khả năng để tiếp cận dịch vụ chăm sóc, mà còn là khả năng đạt được dịch vụ chăm sóc có hiệu quả. Chúng ta thường xuyên không tiếp tục điều trị một khi đã bắt đầu.

Đó là lý do vì sao NMMHAM được thành lập vào năm 2008: để giúp nâng cao nhận thức của những rào cản đối với việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho các nhóm thiểu số.

Đọc tiếp “Làm Thế nào Để Thu Hút Mọi Người Ở Lại Điều Trị Sức Khỏe Tâm Thần?”
Đăng trong Tâm lý học thường thức

6 Điều Mong Đợi Khi Bạn Bắt Đầu Trị Liệu Tâm Lý


Nguồn: Unsplash

Bạn đã thực hiện việc tìm hiểu, tham khảo chéo các lựa chọn của mình và chọn nhà lâm sàng mà bạn muốn bắt đầu trị liệu tâm lý. Và rồi cuối cùng thì ngày đó cũng đến: buổi trị liệu đầu tiên của bạn. Các cảm xúc lẫn lộn hình thành bên trong bạn — từ mong đợi đến lo lắng và từ sợ hãi đến nhẹ nhõm. Tất cả đều xuất hiện cùng một lúc, khiến bạn khó xác định chính xác cảm giác của mình.

“Tôi nên nói những gì?”, “Tôi phải bắt đầu thế nào?”, “Người nào sẽ bắt đầu nói trước?” Đây là những câu hỏi sẽ được trả lời trong vòng 15 phút đầu của phiên trị liệu đầu tiên. Tuy nhiên, ít có khả năng rằng bạn đã chuẩn bị cho những gì sẽ xảy ra khi mà tiến trình trị liệu thực sự bắt đầu. Bởi vì không chỉ có bạn có sự đổi thay khi bạn bắt đầu trị liệu, mà tất cả mọi thứ xung quanh bạn cũng vậy.

Đọc tiếp “6 Điều Mong Đợi Khi Bạn Bắt Đầu Trị Liệu Tâm Lý”
Đăng trong Tâm lý học thường thức

Tại Sao Những Người Sống Sót Sau Sang Chấn Không Thể Cứ Để Nó Qua Đi?

Có vẻ như càng đi sâu vào quá trình chữa lành và phục hồi, tôi càng thấy rằng phần lớn kiến thức thông thường và kiến thức văn hóa của chúng ta không giúp ích cho những người sống sót sau sang chấn. Tất cả những lời lẽ tầm thường và câu nói sáo rỗng cũ rích mà có thể giúp ích cho một người có một ngày tồi tệ bình thường, trên thực tế, có thể trở thành những yếu tố kích hoạt khổng lồ đối với một người đang sống với sang chấn.

Hãy giả sử rằng mọi người đều muốn sống một cuộc sống khỏe mạnh, không đau đớn, phong phú và hữu ích. Có hàng trăm cuốn sách truyền động lực và những nguyên tắc theo kiểu “giả vờ cho đến khi thành sự thật” khuyến khích mọi người “suy nghĩ tích cực”, “hãy để nó qua đi”, “đừng lo lắng vì những điều nhỏ nhặt”, v.v. Chúng có thể đã giúp được một số người. Đánh giá về doanh số bán sách, có lẽ chúng đã giúp được nhiều người. Tuy nhiên, đối với nhiều người sống sót sau sang chấn đang tìm kiếm sự xoa dịu, những cuốn sách và huấn luyện viên truyền động lực này không hề hữu ích. Trên thực tế, nhiều người, chẳng hạn như tôi, càng cảm thấy trầm uất, suy sụp và mất kết nối hơn sau khi đọc chúng. Đây là lý do tại sao.

Đọc tiếp “Tại Sao Những Người Sống Sót Sau Sang Chấn Không Thể Cứ Để Nó Qua Đi?”
Đăng trong Tâm lý học thường thức

Thực Tế Về Tự Tử

  • Tự tử có thể ngăn ngừa được. Hầu hết những người tự tử đều khao khát được sống; họ chỉ không thể thấy các giải pháp thay thế cho vấn đề của họ.
  • Hầu hết những người tự tử đều đưa ra những cảnh báo rõ ràng về ý định tự tử của họ, nhưng những người khác hoặc không nhận thức được tầm quan trọng của những cảnh báo này hoặc không biết cách đối phó với chúng.
  • Việc nói về tự tử không khiến ai đó muốn tự tử.
  • Tự tử có thể xảy ra mà không có giới hạn về tuổi tác, kinh tế, xã hội, chủng tộc và sắc tộc.
  • Hành vi tự tử rất phức tạp và không phải là hậu quả của một vấn đề mà một người đang gặp phải. Một số yếu tố nguy cơ đa dạng theo độ tuổi, giới tính hoặc nhóm dân tộc có thể xảy ra một cách kết hợp hoặc thay đổi theo thời gian.
  • Các thành viên còn sống trong gia đình không chỉ phải chịu đựng sang chấn tâm lý do mất người thân vì tự tử mà bản thân họ còn có thể có nguy cơ cao hơn trong tự tử và các vấn đề về cảm xúc. 

THỐNG KÊ QUỐC GIA (HOA KỲ)

Thống kê được dựa trên năm có số liệu thống kê quốc gia mới nhất mà chúng tôi có – 2016

  • Tự tử hiện là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 10 ở Hoa Kỳ. Điều này dẫn đến tỷ lệ tự tử hàng năm là khoảng 14 trên 100.000 người chết mỗi năm do tự tử (44.193 người mỗi năm), xếp hạng cao hơn cả hành vi giết người (được xếp hạng là nguyên nhân tử vong cao thứ 16).
  • Tỷ lệ tự tử từ năm 1990-2000 giảm từ 12,5 xuống 10,4 người tự tử trên 100.000 người. Tuy nhiên, trong thập kỷ qua, tỷ lệ này đã một lần nữa tăng lên. Mỗi ngày, khoảng 121 người Mỹ chết vì tự tử hoặc cứ 12 phút lại có một người tự tử. (CDC)
  • Năm 2015, có 1.104.825 người cố gắng tự tử ở Hoa Kỳ. Cứ sau 31 giây lại có một người cố gắng tự tử.
  • Người ta ước tính rằng có 25 hành vi nỗ lực tự tử cho mỗi cái chết vì tự tử.
  • Từ 25% đến 50% những người đã tự kết liễu đời mình, đã từng cố gắng tự tử trước đó. Những người đã có hành vi nỗ lực tự tử có nguy cơ thực sự tự kết liễu mình cao hơn.
  • Mỗi vụ tự tử ảnh hưởng mật thiết đến ít nhất sáu người khác (theo ước tính). Năm 2013, người ta ước tính rằng cứ 63 người Mỹ thì có một người trở thành người sống sót sau mất mát người thân yêu vì tự tử.
  • Các phương pháp được báo cáo phổ biến nhất để sử dụng trong việc tự tử ở tất cả các nhóm là: bằng súng (49,8%), tiếp theo là gây ngạt thở hoặc treo cổ (26,8%), đầu độc (15,4), cắt rạch (1,7%) và chết đuối (1,2%).
  • Những chẩn đoán về sức khỏe tâm thần thường có mối liên hệ với việc tỷ lệ nguy cơ tự tử cao. Các nghiên cứu về khám nghiệm tâm lý phản ánh rằng hơn 90% những người đã tự tử thành công có một hoặc nhiều rối loạn tâm thần, đáng chú ý nhất là trầm cảm. (NAMI)

Về độ tuổi

  • Tỷ lệ tự tử thành công cao nhất nằm ở những người trong độ tuổi từ 45-54, kế đến là ở những người cao tuổi với tỷ lệ cao không kém (80 tuổi trở lên).
  • Người ta ước tính rằng người cao tuổi có tỷ lệ tự tử cao hơn gần 50% so với tỷ lệ chung toàn quốc (mọi lứa tuổi).
  • Tự tử hiện được xếp hạng là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 2 cho thanh thiếu niên (từ 15 đến 24 tuổi) ở Hoa Kỳ, sau tai nạn / giao thông đường bộ.
  • Tỷ lệ tự tử ở sinh viên đại học:
    • Dữ liệu có sẵn cho thấy rằng tự tử xảy ra với tỷ lệ từ 6,5 đến 7,5 trên 100.000 sinh viên đại học, xấp xỉ bằng một nửa tỷ lệ tự tử của người trưởng thành ở độ tuổi học đại học nhưng không học đại học. (SPRC)
    • 18% sinh viên đại học và 15% sinh viên hệ sau đại học đã nghiêm túc xem xét đến việc cố gắng tự tử trong cuộc đời của họ. Từ 40 đến 50% trong số những sinh viên này cho biết có nhiều lần suy nghĩ nghiêm túc về tự tử. (Drum, Brownson, Burton Đan Mạch & Smith, 2009)
    • Các nghiên cứu cho thấy nữ sinh hệ sau đại học có nguy cơ tự tử cao hơn nam sinh hệ sau đại học và sinh viên trẻ hơn của cả hai giới. (Nghiên cứu của nhóm trường đại học Big Ten về tự tử ở sinh viên)
    • 80% sinh viên chết do tự tử chưa bao giờ liên hệ với các dịch vụ sức khỏe tâm thần. (NAMI)

Về giới tính (từ Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh Hoa Kỳ – CDC)

  • Nam giới tự sát với tỷ lệ gấp gần 4 lần nữ giới và chiếm 77,9% số vụ tự tử.
  • Nữ giới thường có ý nghĩ  tự tử nhiều hơn nam giới.
  • Bắn súng là phương tiện tự tử phổ biến nhất ở nam giới (56,9%).
  • Đầu độc là cách thức tự tử phổ biến nhất của nữ giới (34,8%)

Về chủng tộc/ dân tộc

Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) đã báo cáo số liệu thống kê sau đây cho giai đoạn 2001-2010 về người Mỹ da trắng/gốc Âu:

  • Ở mức 15,8 trên 100.000, tỷ lệ tự tử của người da trắng ở mọi lứa tuổi cao thứ hai trong số các nhóm chủng tộc / dân tộc và cao hơn tỷ lệ chung của Hoa Kỳ là 13,8. (Suicidology, 2015)
  • Tự tử là nguyên nhân tử vong thứ 10 đối với người da trắng ở mọi lứa tuổi và là nguyên nhân tử vong đứng thứ 2 đối với nam thanh niên da trắng từ 15-34 tuổi.
  • Tỷ lệ cao nhất trong dân số người da trắng, 51,75 trên 100.000, được tìm thấy ở nam giới trưởng thành từ 85 tuổi trở lên.
  • Tỷ lệ hiện hành của ý tưởng tự tử và nỗ lực tự tử trong cuộc đời của người da trắng lần lượt là 16,10% và 4,69%.

CDC đã báo cáo số liệu thống kê sau đây trong giai đoạn 2001-2010 về người Mỹ da đen/gốc Phi:

  • Tỷ lệ tự tử ở mọi lứa tuổi là 5,6 trên 100.000, hơi thấp hơn một nửa so với tỷ lệ chung của Hoa Kỳ là 13,8. (Suicidology, 2015)
  • Tự tử là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 16 đối với người da đen ở mọi lứa tuổi và là nguyên nhân tử vong đứng thứ 3 đối với nam thanh niên da đen từ 15-24 tuổi.
  • Nam giới từ 25 đến 34 tuổi có tỷ lệ tự tử cao nhất trong dân số người da đen, với con số là 16,43 trên 100.000.
  • Tỷ lệ hiện hành của ý tưởng tự tử và nỗ lực tự tử trong cuộc đời của người da đen lần lượt là 11,82% và 4,15%.

CDC đã báo cáo số liệu thống kê sau đây trong giai đoạn 2001-2010 về người Mỹ gốc Tây Ban Nha/Latinh:

  • Tỷ lệ tự tử ở mọi lứa tuổi là 5,85 trên 100.000, hơi thấp hơn một nửa so với tỷ lệ chung của Hoa Kỳ là 12,08.
  • Tự tử được xếp hạng là nguyên nhân tử vong thứ 12 đối với các cá nhân gốc Tây Ban Nha thuộc mọi chủng tộc và lứa tuổi, và là nguyên nhân tử vong đứng thứ 3 đối với nam giới gốc Tây Ban Nha từ 15 đến 34 tuổi.
  • Tỷ lệ tự tử cao nhất trong dân số người gốc Tây Ban Nha, 30,58 trên 100.000, được tìm thấy ở nam giới trưởng thành từ 85 tuổi trở lên.
  • Tỷ lệ hiện hành của ý tưởng tự tử và nỗ lực tự tử trong cuộc đời của người gốc Tây Ban Nha lần lượt là 11,35% và 5,11%.

CDC đã báo cáo số liệu thống kê sau đây cho năm 2015 về người Mỹ da đỏ và người bản địa Alaska:

  • Tỷ lệ tự tử ở mọi lứa tuổi là 19,5 trên 100.000, cao hơn nhiều so với tỷ lệ chung của Hoa Kỳ là 13,8 và cao nhất trong tất cả các nhóm chủng tộc / dân tộc. (CDC)
  • Tự tử được xếp hạng là nguyên nhân tử vong đứng thứ 8 đối với người Mỹ da đỏ và người bản địa Alaska ở mọi lứa tuổi. Tự tử được xếp hạng là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 2 ở người trẻ trong độ tuổi từ 10 đến 34 tuổi.
  • Tỷ lệ tự tử ở thanh thiếu niên người Mỹ da đỏ và thanh thiếu niên bản địa Alaska trong độ tuổi 15-34 là 19,5 trên 100,00, cao hơn 1,5 lần so với tỷ lệ trung bình quốc gia cho nhóm tuổi đó.
  • Tỷ lệ cố gắng tự tử trong cuộc đời của thanh thiếu niên dao động từ 21,8% ở trẻ em gái đến 11,8% ở trẻ em trai và từ 17,6% ở cả hai giới được nuôi dưỡng trong khu vực bảo tồn tới 14,3% ở cả hai giới ở khu vực thành thị.
  • Tỷ lệ có ý tưởng tự tử trong cuộc đời cao hơn đáng kể ở thanh niên sống trong khu bảo tồn (32,6%) so với thanh niên sống ở thành thị (21%).

CDC đã báo cáo các số liệu thống kê sau đây từ năm 2001-2010 về dân số người Mỹ gốc Á và các quốc đảo Thái Bình Dương:

  • Tỷ lệ tự tử là 6,19 trên 100.000, xấp xỉ một nửa tỷ lệ chung của Hoa Kỳ là 12,08.
  • Tự tử được xếp hạng là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 10 ở mọi lứa tuổi và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 2 đối với thanh thiếu niên từ 15-24 tuổi.
  • Tỷ lệ tự tử cao nhất trong dân số người Mỹ gốc Á và người Đảo Thái Bình Dương, 29,76 trên 100.000, được tìm thấy ở nam giới trưởng thành từ 85 tuổi trở lên.
  • Tỷ lệ hiện hành của ý tưởng tự sát và nỗ lực tự tử trong cuộc đời của người Mỹ gốc Á và người dân các đảo Thái Bình Dương lần lượt là 9,02% và 2,55%.

Nguồn: Western Michigan University
Lược dịch: Potato
Biên tập: Lyo Kiu

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Sự Khác Biệt Giữa Suy Nghĩ Ám Ảnh Thông Thường Và OCD (Rối Loạn Ám Ảnh Cưỡng Chế) Là Gì?

Làm thế nào để biết liệu suy nghĩ hoặc thói quen của bạn có phải là một triệu chứng hay không?

ocdthoughts
Nanette Hoogslag/Getty Images

OCD là một thuật ngữ được sử dụng một cách tùy tiện rất nhiều để mô tả một người khi họ tỏ ra tỉ mỉ hoặc ám ảnh về điều gì đó. Nhưng rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) là một chẩn đoán sức khỏe tâm thần lâm sàng và việc sử dụng thuật ngữ này một cách thiếu nghiêm túc không chỉ không chính xác và mang tính quy chụp, mà việc này còn có thể ngăn mọi người thực sự hiểu đây là bệnh gì và những biểu hiện khác nhau của nó ở những người khác nhau.

Đọc tiếp “Sự Khác Biệt Giữa Suy Nghĩ Ám Ảnh Thông Thường Và OCD (Rối Loạn Ám Ảnh Cưỡng Chế) Là Gì?”