Đăng trong Tâm lý học thường thức

Thực Tế Về Tự Tử

  • Tự tử có thể ngăn ngừa được. Hầu hết những người tự tử đều khao khát được sống; họ chỉ không thể thấy các giải pháp thay thế cho vấn đề của họ.
  • Hầu hết những người tự tử đều đưa ra những cảnh báo rõ ràng về ý định tự tử của họ, nhưng những người khác hoặc không nhận thức được tầm quan trọng của những cảnh báo này hoặc không biết cách đối phó với chúng.
  • Việc nói về tự tử không khiến ai đó muốn tự tử.
  • Tự tử có thể xảy ra mà không có giới hạn về tuổi tác, kinh tế, xã hội, chủng tộc và sắc tộc.
  • Hành vi tự tử rất phức tạp và không phải là hậu quả của một vấn đề mà một người đang gặp phải. Một số yếu tố nguy cơ đa dạng theo độ tuổi, giới tính hoặc nhóm dân tộc có thể xảy ra một cách kết hợp hoặc thay đổi theo thời gian.
  • Các thành viên còn sống trong gia đình không chỉ phải chịu đựng sang chấn tâm lý do mất người thân vì tự tử mà bản thân họ còn có thể có nguy cơ cao hơn trong tự tử và các vấn đề về cảm xúc. 

THỐNG KÊ QUỐC GIA (HOA KỲ)

Thống kê được dựa trên năm có số liệu thống kê quốc gia mới nhất mà chúng tôi có – 2016

  • Tự tử hiện là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 10 ở Hoa Kỳ. Điều này dẫn đến tỷ lệ tự tử hàng năm là khoảng 14 trên 100.000 người chết mỗi năm do tự tử (44.193 người mỗi năm), xếp hạng cao hơn cả hành vi giết người (được xếp hạng là nguyên nhân tử vong cao thứ 16).
  • Tỷ lệ tự tử từ năm 1990-2000 giảm từ 12,5 xuống 10,4 người tự tử trên 100.000 người. Tuy nhiên, trong thập kỷ qua, tỷ lệ này đã một lần nữa tăng lên. Mỗi ngày, khoảng 121 người Mỹ chết vì tự tử hoặc cứ 12 phút lại có một người tự tử. (CDC)
  • Năm 2015, có 1.104.825 người cố gắng tự tử ở Hoa Kỳ. Cứ sau 31 giây lại có một người cố gắng tự tử.
  • Người ta ước tính rằng có 25 hành vi nỗ lực tự tử cho mỗi cái chết vì tự tử.
  • Từ 25% đến 50% những người đã tự kết liễu đời mình, đã từng cố gắng tự tử trước đó. Những người đã có hành vi nỗ lực tự tử có nguy cơ thực sự tự kết liễu mình cao hơn.
  • Mỗi vụ tự tử ảnh hưởng mật thiết đến ít nhất sáu người khác (theo ước tính). Năm 2013, người ta ước tính rằng cứ 63 người Mỹ thì có một người trở thành người sống sót sau mất mát người thân yêu vì tự tử.
  • Các phương pháp được báo cáo phổ biến nhất để sử dụng trong việc tự tử ở tất cả các nhóm là: bằng súng (49,8%), tiếp theo là gây ngạt thở hoặc treo cổ (26,8%), đầu độc (15,4), cắt rạch (1,7%) và chết đuối (1,2%).
  • Những chẩn đoán về sức khỏe tâm thần thường có mối liên hệ với việc tỷ lệ nguy cơ tự tử cao. Các nghiên cứu về khám nghiệm tâm lý phản ánh rằng hơn 90% những người đã tự tử thành công có một hoặc nhiều rối loạn tâm thần, đáng chú ý nhất là trầm cảm. (NAMI)

Về độ tuổi

  • Tỷ lệ tự tử thành công cao nhất nằm ở những người trong độ tuổi từ 45-54, kế đến là ở những người cao tuổi với tỷ lệ cao không kém (80 tuổi trở lên).
  • Người ta ước tính rằng người cao tuổi có tỷ lệ tự tử cao hơn gần 50% so với tỷ lệ chung toàn quốc (mọi lứa tuổi).
  • Tự tử hiện được xếp hạng là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 2 cho thanh thiếu niên (từ 15 đến 24 tuổi) ở Hoa Kỳ, sau tai nạn / giao thông đường bộ.
  • Tỷ lệ tự tử ở sinh viên đại học:
    • Dữ liệu có sẵn cho thấy rằng tự tử xảy ra với tỷ lệ từ 6,5 đến 7,5 trên 100.000 sinh viên đại học, xấp xỉ bằng một nửa tỷ lệ tự tử của người trưởng thành ở độ tuổi học đại học nhưng không học đại học. (SPRC)
    • 18% sinh viên đại học và 15% sinh viên hệ sau đại học đã nghiêm túc xem xét đến việc cố gắng tự tử trong cuộc đời của họ. Từ 40 đến 50% trong số những sinh viên này cho biết có nhiều lần suy nghĩ nghiêm túc về tự tử. (Drum, Brownson, Burton Đan Mạch & Smith, 2009)
    • Các nghiên cứu cho thấy nữ sinh hệ sau đại học có nguy cơ tự tử cao hơn nam sinh hệ sau đại học và sinh viên trẻ hơn của cả hai giới. (Nghiên cứu của nhóm trường đại học Big Ten về tự tử ở sinh viên)
    • 80% sinh viên chết do tự tử chưa bao giờ liên hệ với các dịch vụ sức khỏe tâm thần. (NAMI)

Về giới tính (từ Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh Hoa Kỳ – CDC)

  • Nam giới tự sát với tỷ lệ gấp gần 4 lần nữ giới và chiếm 77,9% số vụ tự tử.
  • Nữ giới thường có ý nghĩ  tự tử nhiều hơn nam giới.
  • Bắn súng là phương tiện tự tử phổ biến nhất ở nam giới (56,9%).
  • Đầu độc là cách thức tự tử phổ biến nhất của nữ giới (34,8%)

Về chủng tộc/ dân tộc

Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) đã báo cáo số liệu thống kê sau đây cho giai đoạn 2001-2010 về người Mỹ da trắng/gốc Âu:

  • Ở mức 15,8 trên 100.000, tỷ lệ tự tử của người da trắng ở mọi lứa tuổi cao thứ hai trong số các nhóm chủng tộc / dân tộc và cao hơn tỷ lệ chung của Hoa Kỳ là 13,8. (Suicidology, 2015)
  • Tự tử là nguyên nhân tử vong thứ 10 đối với người da trắng ở mọi lứa tuổi và là nguyên nhân tử vong đứng thứ 2 đối với nam thanh niên da trắng từ 15-34 tuổi.
  • Tỷ lệ cao nhất trong dân số người da trắng, 51,75 trên 100.000, được tìm thấy ở nam giới trưởng thành từ 85 tuổi trở lên.
  • Tỷ lệ hiện hành của ý tưởng tự tử và nỗ lực tự tử trong cuộc đời của người da trắng lần lượt là 16,10% và 4,69%.

CDC đã báo cáo số liệu thống kê sau đây trong giai đoạn 2001-2010 về người Mỹ da đen/gốc Phi:

  • Tỷ lệ tự tử ở mọi lứa tuổi là 5,6 trên 100.000, hơi thấp hơn một nửa so với tỷ lệ chung của Hoa Kỳ là 13,8. (Suicidology, 2015)
  • Tự tử là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 16 đối với người da đen ở mọi lứa tuổi và là nguyên nhân tử vong đứng thứ 3 đối với nam thanh niên da đen từ 15-24 tuổi.
  • Nam giới từ 25 đến 34 tuổi có tỷ lệ tự tử cao nhất trong dân số người da đen, với con số là 16,43 trên 100.000.
  • Tỷ lệ hiện hành của ý tưởng tự tử và nỗ lực tự tử trong cuộc đời của người da đen lần lượt là 11,82% và 4,15%.

CDC đã báo cáo số liệu thống kê sau đây trong giai đoạn 2001-2010 về người Mỹ gốc Tây Ban Nha/Latinh:

  • Tỷ lệ tự tử ở mọi lứa tuổi là 5,85 trên 100.000, hơi thấp hơn một nửa so với tỷ lệ chung của Hoa Kỳ là 12,08.
  • Tự tử được xếp hạng là nguyên nhân tử vong thứ 12 đối với các cá nhân gốc Tây Ban Nha thuộc mọi chủng tộc và lứa tuổi, và là nguyên nhân tử vong đứng thứ 3 đối với nam giới gốc Tây Ban Nha từ 15 đến 34 tuổi.
  • Tỷ lệ tự tử cao nhất trong dân số người gốc Tây Ban Nha, 30,58 trên 100.000, được tìm thấy ở nam giới trưởng thành từ 85 tuổi trở lên.
  • Tỷ lệ hiện hành của ý tưởng tự tử và nỗ lực tự tử trong cuộc đời của người gốc Tây Ban Nha lần lượt là 11,35% và 5,11%.

CDC đã báo cáo số liệu thống kê sau đây cho năm 2015 về người Mỹ da đỏ và người bản địa Alaska:

  • Tỷ lệ tự tử ở mọi lứa tuổi là 19,5 trên 100.000, cao hơn nhiều so với tỷ lệ chung của Hoa Kỳ là 13,8 và cao nhất trong tất cả các nhóm chủng tộc / dân tộc. (CDC)
  • Tự tử được xếp hạng là nguyên nhân tử vong đứng thứ 8 đối với người Mỹ da đỏ và người bản địa Alaska ở mọi lứa tuổi. Tự tử được xếp hạng là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 2 ở người trẻ trong độ tuổi từ 10 đến 34 tuổi.
  • Tỷ lệ tự tử ở thanh thiếu niên người Mỹ da đỏ và thanh thiếu niên bản địa Alaska trong độ tuổi 15-34 là 19,5 trên 100,00, cao hơn 1,5 lần so với tỷ lệ trung bình quốc gia cho nhóm tuổi đó.
  • Tỷ lệ cố gắng tự tử trong cuộc đời của thanh thiếu niên dao động từ 21,8% ở trẻ em gái đến 11,8% ở trẻ em trai và từ 17,6% ở cả hai giới được nuôi dưỡng trong khu vực bảo tồn tới 14,3% ở cả hai giới ở khu vực thành thị.
  • Tỷ lệ có ý tưởng tự tử trong cuộc đời cao hơn đáng kể ở thanh niên sống trong khu bảo tồn (32,6%) so với thanh niên sống ở thành thị (21%).

CDC đã báo cáo các số liệu thống kê sau đây từ năm 2001-2010 về dân số người Mỹ gốc Á và các quốc đảo Thái Bình Dương:

  • Tỷ lệ tự tử là 6,19 trên 100.000, xấp xỉ một nửa tỷ lệ chung của Hoa Kỳ là 12,08.
  • Tự tử được xếp hạng là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 10 ở mọi lứa tuổi và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 2 đối với thanh thiếu niên từ 15-24 tuổi.
  • Tỷ lệ tự tử cao nhất trong dân số người Mỹ gốc Á và người Đảo Thái Bình Dương, 29,76 trên 100.000, được tìm thấy ở nam giới trưởng thành từ 85 tuổi trở lên.
  • Tỷ lệ hiện hành của ý tưởng tự sát và nỗ lực tự tử trong cuộc đời của người Mỹ gốc Á và người dân các đảo Thái Bình Dương lần lượt là 9,02% và 2,55%.

Nguồn: Western Michigan University
Lược dịch: Potato
Biên tập: Lyo Kiu

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Sự Khác Biệt Giữa Suy Nghĩ Ám Ảnh Thông Thường Và OCD (Rối Loạn Ám Ảnh Cưỡng Chế) Là Gì?

Làm thế nào để biết liệu suy nghĩ hoặc thói quen của bạn có phải là một triệu chứng hay không?

ocdthoughts
Nanette Hoogslag/Getty Images

OCD là một thuật ngữ được sử dụng một cách tùy tiện rất nhiều để mô tả một người khi họ tỏ ra tỉ mỉ hoặc ám ảnh về điều gì đó. Nhưng rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) là một chẩn đoán sức khỏe tâm thần lâm sàng và việc sử dụng thuật ngữ này một cách thiếu nghiêm túc không chỉ không chính xác và mang tính quy chụp, mà việc này còn có thể ngăn mọi người thực sự hiểu đây là bệnh gì và những biểu hiện khác nhau của nó ở những người khác nhau.

Đọc tiếp “Sự Khác Biệt Giữa Suy Nghĩ Ám Ảnh Thông Thường Và OCD (Rối Loạn Ám Ảnh Cưỡng Chế) Là Gì?”