Đăng trong Tâm lý học thường thức

Chúng Ta Có Thể Ngăn Được Việc Tự Sát Không?

Vào tháng 5 năm 2017, Louise quyết định rằng cuộc sống của bà ấy quá khốn khó nên bà sẽ kết thúc nó. Bốn năm trước đó, ba người anh/chị/em ruột và một người em họ đã chết, hai người do bệnh tật, một người do hỏa hoạn và một người bị ngạt thở. Những người bạn thân đã chuyển đi nơi khác sống. Bà cảm thấy cô độc một cách đau đớn và không thể chịu đựng được. Đó là lần thứ tư Louise (tôi đang sử dụng tên đệm để bảo vệ quyền riêng tư của bà ấy) định tự sát và bà quyết tâm làm tới cùng, lúc đó bà ấy đã 68 tuổi.

Bà ấy đã viết một bức thư hướng dẫn về nơi để tìm các tài liệu quan trọng và ai sẽ được thừa kế những gì. Bà đóng gói đồ trang sức và tác phẩm nghệ thuật của mình, gửi từng hộp cho bạn bè và các thành viên gia đình cụ thể. Sau đó, bà vào một nhà nghỉ (vì ngôi nhà nào từng có người tự sát sẽ bị mất giá và bà không muốn nhà của mình bị bán thấp hơn giá thị trường), bà đặt một tấm nhựa lên giường, nằm xuống và uống một lượng thuốc mà bà cho là quá liều so với đơn thuốc cùng rượu sâm panh.

Vài ngày sau, bà tỉnh dậy trong một khu chăm sóc bệnh tâm thần ở Albuquerque. Người giúp việc của nhà nghỉ đã tìm thấy bà ấy. “Tôi rất khó chịu vì tôi đã thất bại,” bà đã kể với tôi như vậy gần đây. Vì thế, bà đã cố gắng cắt cổ tay của mình bằng một chiếc vòng tay mà bà đang đeo – nhưng cũng không thành công.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC), tỷ lệ tự sát đang gia tăng ở Hoa Kỳ kể từ đầu thế kỷ, và hiện là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 10. Nó thường được gọi là cơn khủng hoảng sức khỏe cộng đồng. Và chưa có thế hệ thuốc mới nào được phát triển để điều trị trầm cảm (và sự lan rộng khuynh hướng tự sát) trong khoảng 30 năm kể từ sự ra đời của các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc như Prozac.

Xu hướng này rất có thể là do các nguyên nhân xã hội như thiếu khả năng tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, căng thẳng về kinh tế, sự cô đơn và tuyệt vọng, đại dịch thuốc opioid và các khó khăn đặc thù mà các thị trấn nhỏ của Mỹ phải đối mặt. Đây là những vấn đề nghiêm trọng cần giải pháp lâu dài. Nhưng trong chờ đợi thì lĩnh vực tâm thần học rất cần những phương án điều trị mới cho những bệnh nhân tìm đến với bụng đã uống đầy thuốc.

Giờ đây, các nhà khoa học nghĩ rằng họ có thể đã tìm thấy một loại thuốc – một loại gây mê cũ gọi là ketamine, với liều lượng thấp, có thể ngăn chặn ý định tự sát gần như ngay lập tức.

Trầm cảm đã len lỏi trong gia đình Louise từ lâu. Nó đã làm tất cả anh chị em của bà đau khổ, cả cha mẹ và bà của bà ấy. Prozac đã giúp Louise được một thời gian, nhưng đôi khi cũng mất tác dụng và mất tác dụng hẳn vào cuối những năm 2000. Không có loại thuốc nào khác có thể cải thiện tâm trạng u tối của bà.

Sau khi sự cố gắng tự sát của bà, bác sĩ tâm thần của Louise đề nghị bà thử dùng ketamine. Bà ấy đồng ý và được truyền vào tĩnh mạch. Trong vòng vài giờ, cảm giác hạnh phúc của bà ấy được cải thiện. Bệnh viện cho xuất viện. Trở về nhà, bà phát hiện ra rằng đi chợ không còn là một “nhiệm vụ nặng nề” nữa. Đem xe đi rửa xe cũng không còn là một việc vặt không thể làm được. “Cuộc sống đã tốt hơn,” bà nói.

Việc sử dụng ketamine để điều trị chứng trầm cảm và tự sát đang gây tranh cãi. Nhiều nghiên cứu nhỏ cho thấy rằng nó có nhiều hứa hẹn, nhưng hiện nó chỉ đang được kiểm tra trong các thử nghiệm giả dược với hàng trăm bệnh nhân. Nó cũng phổ biến như những loại thuốc được kiểm soát kĩ khác. Giống như morphine, nó có thể hoạt động trên hệ thống opioid và có thể gây ra cảm giác hưng phấn. Đôi khi những người lạm dụng ketamine biểu lộ ra các triệu chứng nghiêm trọng, bao gồm tổn thương não, ảo giác dai dẳng và tình trạng đau nhức bàng quang được gọi là viêm bóng đái.

Tuy nhiên, nếu được chứng minh là an toàn và hiệu quả với liều lượng nhỏ, ketamine có thể thay đổi cách bác sĩ đối phó với bệnh nhân tự sát và trầm cảm nói chung.

Thuốc dường như giải quyết một vấn đề lâu dài trong cấp cứu tâm thần. Bỏ thuốc an thần và việc kiềm chế thể chất sang một bên, các bác sĩ có một số cách để nhanh chóng ngăn chặn ý tưởng tự sát hoặc ý nghĩ tự sát. Các loại thuốc chống trầm cảm hiện tại có thể mất vài tuần và đôi khi vài tháng để phát huy tác dụng, nếu chúng có tác dụng. Ngược lại, chúng cũng có thể làm tăng tình trạng tự sát ở một số bệnh nhân. Liệu pháp trò chuyện cũng cần thời gian để hỗ trợ (giả sử như vậy). Đây là một thực tế nghiêm trọng: Một số nghiên cứu chỉ ra rằng nguy cơ tự sát đạt đỉnh điểm ngay sau khi bệnh nhân được xuất viện khỏi cơ sở y tế.

Các nhà nghiên cứu tại Yale đã phát hiện ra tiềm năng của ketamine như một loại thuốc chống trầm cảm vào cuối những năm 1990 và các nhà khoa học tại Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia đã xác nhận nó vào giữa những năm 2000. Nhiều nghiên cứu sau đó cho thấy rằng loại thuốc này giúp ích chính xác cho nhóm bệnh nhân trầm cảm – khoảng một phần ba – với những người mà không thứ nào khác có tác dụng. Thuốc này không có tác dụng với tất cả mọi người trong nhóm này, nhưng khi có, nó hữu hiệu trong vài giờ chứ không phải vài tuần.

Khuynh hướng tự sát không hoàn toàn trùng lấp với chứng trầm cảm. Nhiều người cố gắng tự sát không phải vì họ bị trầm cảm lâm sàng mà là do xung động, vì họ đã bị sa thải hoặc họ đã chia tay với bạn trai và bạn gái, hoặc đôi khi họ chỉ quá say. Tôi được biết là những người xuất hiện trong bệnh viện trong tình trạng này – chán nản, tức giận và hoang mang hơn là trầm cảm – được mô tả là “drunkicidal” (tự sát khi say rượu).

Nhiều người sẽ ổn một khi họ còn tỉnh táo. Đối với những người không như vậy thì ketamine sẽ hoạt động hiệu quả độc lập với tác dụng của nó đối với bệnh trầm cảm. Và bởi vì ketamine đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm phê duyệt, các bác sĩ có thể kê đơn ngoài hướng dẫn sử dụng. Có nghĩa là hiện nay không chỉ có một loại thuốc hiện hành có thể giúp điều trị chứng trầm cảm và tự sát mà về mặt lý thuyết, nó còn có sẵn cho bệnh nhân.

Tôi luôn nghĩ về điều này trong thời gian gần đây có hàng loạt vụ tự sát nổi tiếng: đầu bếp Anthony Bourdain, nhà thiết kế Kate Spade, nữ diễn viên Margot Kidder. Ketamine có thể cứu ai trong số họ không? Họ đã biết về ketamine không? Bác sĩ tâm thần của họ có biết về nó không?

Louise nói với tôi: “Nhiều bệnh nhân hơn nên nhận thức được điều này hơn. Đó thực sự là một may mắn.”

Đầu năm nay, tôi đã viết về ketamine và chứng trầm cảm cho tờ Wired, và những bệnh nhân tôi phỏng vấn đã kể với tôi một số phiên bản từ cùng một thứ – rằng ketamine đã thay đổi cuộc sống của họ và trong một số trường hợp, đã cứu cuộc sống của họ.

Ketamine hoạt động khác với các thuốc chống trầm cảm khác. Lý thuyết phổ biến là nó ảnh hưởng đến hệ thống glutamate của não – hiện nay các nhà khoa học nhận ra nó có thể liên quan đến chứng trầm cảm, chứ không phải là con đường serotonin được sử dụng bởi các loại thuốc như Prozac. Nghiên cứu trên động vật cho thấy rằng việc ngăn chặn một phần các thụ thể glutamate nhất định làm tăng độ dẻo của não – khả năng não tạo ra các kết nối thần kinh mới – và điều chỉnh một số bất thường do căng thẳng mãn tính. Những tác động có lợi ở não này, cùng với tốc độ hoạt động của ketamine, đã truyền cảm hứng cho một loạt nghiên cứu. Một số loại thuốc có nguồn gốc từ ketamine hoặc dựa trên cách các nhà khoa học cho rằng nó hoạt động, đang được phát triển. Công ty dược phẩm Janssen đang nghiên cứu một loại thuốc xịt mũi.

Nhưng ketamine có những thứ nhiều người coi là một thiếu sót lớn. Nó có thể tạo ra các phản ứng phụ gây ảo giác và phân ly khi đang được sử dụng. Bệnh nhân có thể cảm thấy như thể họ đã rời khỏi cơ thể của họ hoặc rằng họ đang chết. Louise mô tả trải nghiệm ketamine đầu tiên của cô giống như bức tranh của Picasso “Guernica” – rời rạc và khó chịu. Nhưng các phương pháp điều trị tiếp theo thì “tuyệt vời”, cô ấy nói – đầy hình ảnh của các loài chim, cá và cá voi.

Các câu hỏi cũng vẫn còn về sự an toàn của việc sử dụng lâu dài. Bệnh nhân trầm cảm thường phải quay lại để điều trị “tăng cường” (Louise nhận thấy rằng cô ấy cần được truyền dịch mỗi tháng một lần). Thuốc được coi là an toàn khi dùng một lần, nhưng không ai chắc chắn liều lặp lại có thể ảnh hưởng đến não như thế nào. Và ketamine cũng có thể gây nghiện.

Tuy nhiên, hàng chục phòng khám đã mở trên khắp đất nước cung cấp dịch vụ truyền ketamine như một phương pháp điều trị ngoài kê đơn theo hướng dẫn cho bệnh trầm cảm. Quan điểm tại các phòng khám này khiến dấy lên một lo ngại về việc trục lợi (các phương pháp điều trị của Louise có giá 500 đô la phí phát sinh; hầu hết các công ty bảo hiểm không bao trả ketamine khi nó được kê đơn ngoài hướng dẫn sử dụng) thay vì biết rằng chúng có thể giúp đỡ những bệnh nhân đang tuyệt vọng. Tiến sĩ Jeffrey Lieberman, bác sĩ tâm thần của Trung tâm Y tế Đại học Columbia, nói với trang tin tức chăm sóc sức khỏe STAT rằng một số bệnh nhân có thể “bị lừa”.

Tiến sĩ Samuel Wilkinson, một bác sĩ tâm thần học của Yale, người nghiên cứu ketamine, lo lắng rằng một số người điều hành phòng khám này đã bỏ qua các phương pháp điều trị lâu đời trước đó để thử ketamine. Trường hợp điển hình: Louise đã từ chối liệu pháp điện giật, vì cô nhớ nó đã khiến mẹ và bà của cô trở thành “thây ma sống”. Theo quan điểm của Tiến sĩ Wilkinson, bệnh nhân nên cân nhắc kỹ lưỡng tất cả các khả năng hợp lý khác trước khi chuyển sang dùng ketamine. (Và liệu pháp điện giật, vốn vẫn giữ được danh tiếng khủng khiếp, trên thực tế đã được cải thiện rất nhiều, ông nói.) Ông cũng lo lắng rằng các xung động tự sát của bệnh nhân dường như biến mất sau khi điều trị bằng ketamine, dẫn đến việc xuất viện, nhưng sau đó lại bùng phát trở lại sau khi dừng hoặc giảm dần việc dùng ketamine – điều mà ông đã thấy xảy ra trong bối cảnh nghiên cứu.

Vấn đề sâu hơn ở đây là một trong những nguy cơ của phương pháp điều trị mới vẫn chưa được kiểm tra đầy đủ và có các tác dụng phụ lâu dài không rõ ràng đối với một tình trạng mà triệu chứng chính làsự thôi thúc tự sát.

Tiến sĩ Michael Grunebaum, một bác sĩ tâm thần người Columbia, người nghiên cứu về ketamine, cho rằng loại thuốc này không nên được đưa vào phương pháp điều trị sau cùng. Ông ấy nói với tôi: “Cũng hợp lý khi nó phát triển lên trong kế hoạch điều trị ở phòng cấp cứu và các đơn vị nội trú.” Ông cũng nói thêm “Tuy nhiên nếu các phòng cấp cứu ở khắp mọi nơi bắt đầu cung cấp ketamine, nó có thể tạo ra những vấn đề mới. Như đã xảy ra với opioid, mọi người có thể cho rằng mình muốn tự sát trong khi thực tế là họ đang cố gắng để được “phê”). Sự ủng hộ rõ ràng nhất về ketamine có thể đến từ những người ở tuyến đầu của ngành y: các bác sĩ phòng cấp cứu. Tôi đã gặp Louise thông qua một người bạn là bác sĩ, Lowan Stewart, người làm việc tại phòng cấp cứu ở Santa Fe, N.M., nơi bà ấy nhập viện lần đầu sau khi dùng thuốc quá liều. Anh ta cũng điều trị cho các bệnh nhân tại phòng khám ketamine nơi Louise đã đến sau cùng. Nói chung, quy trình trong phòng cấp cứu trước giờ vốn không bao gồm việc cho bệnh nhân tự sát dùng ketamine và anh lập luận rằng điều này nên thay đổi.

Quan điểm của anh được đưa ra bởi bối cảnh khắc nghiệt của phòng cấp cứu nên rất đáng được xem xét. Anh thường xuyên nhìn thấy những bệnh nhân với vết thương do súng và dao, những người trải qua các giai đoạn loạn thần, tai nạn xe hơi và nạn nhân sử dụng ma túy quá liều – và tất nhiên cả những bệnh nhân tự sát. Đôi khi những bệnh nhân này cầu xin anh ta giết họ. Những lúc khác, họ đe dọa hoặc tấn công các sĩ quan cảnh sát – một nỗ lực để “tự sát bằng cảnh sát.” Khi đã ổn định họ lại, anh thường phải nhốt họ trong phòng có đệm đến 24 giờ và chỉ mặc bộ đồ pijama mỏng như giấy mà có thể xé toạc, có lẽ là dùng thêm thuốc an thần, chờ cho đến khi bác sĩ tâm thần đến. “Thật kinh khủng, thực tế của một phòng cấp cứu đông đúc là sau cùng những bệnh nhân này thường khóc một mình,” anh ấy nói với tôi.

Các bác sĩ phòng cấp cứu thường khá quen thuộc với ketamine; Tiến sĩ Stewart sử dụng nó như một loại thuốc gây mê thường xuyên cho trẻ em vì nó được coi là rất an toàn. Giờ đây, nghiên cứu đã cho thấy tiềm năng điều trị trầm cảm và ngăn chặn các xung động tự sát, ông cho rằng các bác sĩ nên cung cấp nó cho những bệnh nhân tự sát ở phòng cấp cứu “Chúng tôi có thể giúp được rất nhiều người,” ông nói.

Moises Velasquez-Manoff, tác giả của “An Epidemic of Absence: A New Way of Understanding Allergies and Autoimmune Diseases” (Đại dịch vắng mặt: Cách hiểu mới về bệnh dị ứng và bệnh tự miễn) và là biên tập viên của tạp chí Bay Nature, là một tác giả đóng góp ý kiến.

Lược dịch: Team The Givers

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Sự Hứa Hẹn Vô Nghĩa Của Chuyện Phòng Ngừa Tự Sát

Nếu tự sát có thể ngăn ngừa được vậy tại sao rất nhiều người đang chết vì nó? Tự sát là nguyên nhân thứ 10 dẫn tới cái chết ở Mĩ và tỷ lệ tự sát vẫn cứ tiếp tục tăng.

Một vài năm trước, tôi điều trị cho một bệnh nhân là một tiếp viên hàng không, em trai của cô đem cô tới đơn vị can thiệp khủng hoảng tâm thần sau khi nhận thấy hành vi bất thường của cô tại đám cưới. Sau buổi lễ, cô ấy âm thầm để lại quà và thư chúc mừng cho những thành viên trong gia đình. Khi em trai cô chở cô về nhà, anh phát hiện ra rất nhiều đồ nội thất và tranh vẽ biến mất, trong phòng tắm anh phát hiện ra ba hộp thuốc ngủ chưa mở.

Anh đối chất với cô và cô thừa nhận rằng cô đã quyên góp tài sản cho quỹ từ thiện. Cô cũng rút hết tiền hưu trong tài khoản và dùng số tiền đó trả cho tiền thế chấp căn nhà, khoản vay mua xe và tất cả những hoá đơn. 

Khi tôi nói chuyện với cô, cô nói rằng đã hơn 4 tháng mà làm việc gì cũng không thấy vui – ăn, dọn dẹp nhà cửa, nói chuyện với hàng xóm – với những nỗ lực khủng khiếp. Cô cảm thấy kiệt sức bởi việc phải sống mỗi ngày và suy nghĩ phải chống chọi lại điều này trong nhiều năm sắp tới là sự giày vò mà cô không chịu đựng được

Sau khi lượng giá cô, tôi bảo cô rằng tôi nghĩ cô đã trải qua một pha trong rối loạn lưỡng cực và cô cần cam kết đến bệnh viện khi bắt đầu điều trị. Cô nhún vai và quăng cho tôi sự phản hồi khó chịu nhất: “Tôi không quan tâm.”

Một trong những lý do tôi nhớ người phụ nữ này rõ là vì vậy, trong tất cả những bệnh nhân mà tôi từng lượng giá nguy cơ tự sát, cô ấy là một trường hợp bất thường. Cô có sự cân nhắc và duy trì suy nghĩ kết thúc đời mình trong thời gian dài. May thay, điều đó khiến cô bị phát hiện ra và gia đình đã có thể can thiệp kịp thời. Cô đáp ứng tốt với lithium, một trong hai loại thuốc tâm thần được chứng minh giảm thiểu tự sát (loại còn lại là chống loạn thần, clozapine). Cơn trầm cảm của cô thuyên giảm chậm rãi và cô bắt đầu nhớ ra những thứ khiến đời cô đáng để sống.

Cô ấy chính xác là kiểu người muốn tự sát mà bác sĩ tâm thần có thể giúp – một người có bệnh tinh thần không chẩn đoán được nhưng chữa được và chỉ cần được giữ an toàn đến khi thuốc có tác dụng.

Hầu hết những bệnh nhân tự sát tôi gặp đều đi theo một kiểu khác, giống như trường hợp ở viện nội trú gần đây. Một phụ nữ trung niên không có tiền sử tâm thần được đem tới sau khi dùng quá liều giảm đau. Cô ấy bị mất nhà gần đây. Sau bảy năm yên bình thì cô ấy lại suy sụp và sử dụng methamphetamine để giữ mình thức suốt đêm sau khi bị tấn công tình dục trong công viên, nơi cô ấy ngủ hàng đêm. Cô ấy không có gia đình hỗ trợ, không bao hiểm, không tiền và không được giáo dục đến cấp phổ thông.

Cô không thấy được lối thoát nào cho cuộc đời mình. Vì vậy cô đi đến tiệm thuốc và chôm lấy vài chai thuốc chống viêm và chạy vào nhà vệ sinh nơi cô ấy nuốt hết tất cả những viên thuốc mà sức mình có thể trước khi có người bước vào.

Tôi hỏi viện trưởng làm sao để giúp cô trong khi cô còn ở trong bệnh viện. Sau một hồi, ông ấy đề nghị một cách nhẹ nhàng “Cho cổ bắt đầu với thuốc chống trầm cảm?”

Tôi có thể nói với ổng rằng ổng thừa biết điều đó nghe lố lăng cỡ nào.

Là bác sĩ, chúng tôi muốn giúp mọi người và điều đó có thể khó thừa nhận đối với chúng tôi khi những công cụ hỗ trợ có giới hạn. Thuốc chống trầm cảm dường như là giải pháp hiển nhiên, nhưng chỉ khoảng 40% đến 60% bệnh nhân sử dụng chúng cảm thấy khá hơn. Và trong khi gần như 1 trên 10 người Mĩ đều sử dụng thuốc chống trầm cảm, có rất ít bằng chứng thuyết phục chứng minh rằng chúng giúp giảm tự sát. Điều này  là bởi vì có rất nhiều khó khăn dẫn tới chuyện tự sát mà không thể giúp được với việc thêm một chút serotonin. Thuốc chống trầm cảm không thể cung cấp công việc làm hoặc nhà ở, hàn gắn lại những mối quan hệ với thành viên trong gia đình hoặc đem lại sự yên bình.

Phòng ngừa tự sát cũng khó vì những thành viên gia đình hiếm khi biết được người mà họ yêu thương sắp cố gắng tự sát, thường thì người đó cũng không biết về chính bản thân họ. Kế hoạch kĩ càng của cô tiếp viên hàng không là bất thường, phổ biến nhiều hơn là sự chộp bất cứ gì vào tay để tự kết liễu mình trong khoảnh khắc tuyệt vọng.

Theo như một nghiên cứu năm 2016, hầu như một nửa số người cố gắng tự sát đều thực hiện một cách xung động. Một nghiên cứu năm 2001 đã phỏng vấn những người sống sót sau khi thử chạm mặt cái chết (được xác định với bất kì sự thử nào chí mạng mà không hề có sự phòng ngừa y tế hoặc bất kì sự thử nào mà dùng súng) đã nhận thấy đại khái ¼ người có cân nhắc hành động của mình trong khoảng ít hơn 5 phút. Điều này không cho thêm ai nhiều thời gian để để ý điều gì đó sai sai và nhảy vào cuộc hết.

Tuy nhiên những người cung cấp dịch vụ sức khoẻ tâm thần nhớ mãi chuyện kể rằng việc tự sát có thể phòng ngừa được nếu bệnh nhân và người trong gia đình chỉ cần làm theo những bước đúng. Những chiến dịch phòng ngừa tự sát khuyến khích mọi người vượt qua những định kiến và nói với ai đó hoặc gọi cho đường dây nóng. Điều muốn nói ở đây là sự giúp đỡ luôn có, hãy cứ đợi để được phát hiện ra.

Nhưng nó không hề dễ dàng như vậy. Những viện tâm thần ngoại trú tốt rất khó để tìm, khó để vào và khó đủ tiền để trả. Viện nội trú thì dành cho những ca nghiêm trọng và thậm chí với bệnh nhân còn không đủ giường bệnh. Những sự khởi đầu như các đường dây nóng can thiệp khủng hoảng và các chiến dịch chống định kiến tập trung vào việc mở ra cánh cửa chính đến những dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm thần, nhưng mấy thứ này giống như xây thêm cửa cho một toà nhà vốn dĩ đã trống không.

Nhưng vẫn có những thứ chúng ta có thể làm để ngăn chặn tự sát. Một trong vài chiến lược “thử và đúng” đang làm giảm sự tiếp cận của mọi người đến những thứ gây chết người, vì vậy miễn là họ không chìm đắm vào sự vô vọng thì bất cứ sự thử nào cũng hầu như không nguy hiểm đến tính mạng. Nếu bệnh nhân đầu tiên của tôi không có khẩu súng trong nhà thì cô ấy lẽ ra không chết . Nếu bệnh nhân thứ hai của tôi túm lấy acetaminophen thay vì ibuprofen thì có lẽ cô ấy cũng không chết. Ngăn chặn cái chết trong khoảnh khắc tuyệt vọng đầy xung động đó là mấu chốt cho việc giảm thiểu tỉ lệ tự sát. Ngược lại với quan điểm phổ biến đó, chỉ có một số nhỏ người sống sót sau một lần cố gắng tự sát nghiêm trọng lại tiếp tục và chết trong lần cố gắng khác.

Sự quyết định dừng sống là một thứ mà người ta chọn bởi rất nhiều lý do, một vài người thì phải qua nhiều tháng, nhưng rất nhiều người chỉ vài phút. Những người này sẽ không ngăn lại được bởi hệ thống chăm sóc sức khoẻ tâm thần. Chúng tôi dĩ nhiên cần nhiều dịch vụ tâm thần hơn và nhiều nghiên cứu hơn để tốt hơn, ra tay điều trị nhanh hơn cho những người trầm cảm nặng và có ý định tự sát, nhưng điều đó sẽ không bao giờ đủ.

Chúng ta cần nhấn mạnh cái nguyên nhân cốt lõi của vấn đề tự sát của nước ta – nghèo đói, vô gia cư và những trải nghiệm biến cố kèm theo, tội phạm và ma tuý. Điều đó nghĩa là điều trị nghiện chất, tham vấn gia đình, nguồn nhà ở cho người thu nhập thấp, huấn luyện nghề nghiệp và tâm lý trị liệu cá nhân sẽ tốt hơn. Và với những người vẫn có nguy cơ trượt qua tất cả những điểm chốt này, chúng ta cần đảm bảo rằng họ không có sự tiếp cận với súng hay những thuốc gây chết người.

Chúng ta bỏ qua tất cả những điều này và vẫn tiếp tục kể nhau nghe rằng ta có giải pháp đơn giản trong tay, gia đình của những nạn nhân tự sát sẽ bị bỏ lại với câu hỏi là họ đã làm gì sai.

By Amy Barnhorst

Tiến sĩ Barnhorst là một bác sĩ tâm thần.

Lược dịch: The Uranian.

Đăng trong Therapy

Các Nhà Lâm Sàng Sẽ Đi Về Đâu Khi Bệnh Nhân Của Họ Tự Sát

Một y tá cho tôi xem bài báo ngay khi tôi vừa bước vào. Tôi nhìn thấy một gương mặt cười của chàng trai trẻ mà tôi đã chăm sóc từ khi anh ấy còn là một cậu thiếu niên. Sau vài lần tự hoại và đe doạ tự sát, cậu được nhận vào bệnh viện Connecticut, nơi tôi đang làm việc với vai trò là bác sĩ tâm thần nhi và thanh thiếu niên. Tôi ước tôi được nhìn thấy nụ cười đó suốt quá trình điều trị, nụ cười đó trông thật chân thật. Nhưng nụ cười trên bài báo lại là một bài cáo phó.

Tôi như vụn vỡ. Tôi chẳng biết làm gì với cảm giác của mình và thấy nhục nhã nếu để người ta biết. Lượng giá tự sát là một phần cơ bản trong chương trình đào tạo tâm thần của tôi, nhưng làm gì khi tự sát chưa diễn ra. Điều này đúng cho rất nhiều chương trình đào tạo tâm thần dọc theo cả nước. Điều cần nhấn mạnh ở đây là họ coi trọng việc phòng ngừa tự sát nhưng không hề có đủ sự tập trung trong việc chuẩn bị cho những bác sĩ thực tập về chuyện mất mát bệnh nhân bởi tự sát hay việc làm sao để đương đầu với kết quả sau đó.

Cái chết của chàng trai trẻ này đặc biệt đau lòng với tôi vì anh ấy không phải là người hoàn toàn xa lạ. Lần nhập viện cuối cùng của anh là hai tháng trước khi anh chết, và cũng là lần đầu tiên tôi không phụ trách chăm sóc cho anh. Chỉ trước lần nhập viện đó, quý bà dễ thương đã sửa quần áo cho tôi và đề cập rằng cháu bà đã nhập viện được vài lần rồi. Bà ấy biết tôi là bác sĩ tâm thần và bắt đầu kể về hành trình gian khổ mà gia đình bà phải đối mặt vì sự chiến đấu với vấn đề sức khoẻ tâm thần của cháu mình. Sau đó bà ấy nhắc tên anh. Trong lĩnh vực của tôi – cái dựa vào sự tin tưởng tuyệt đối của bệnh nhân, điều này khá khó khi mà vừa điều trị cho ai đó, vừa phải có mối quan hệ tách bạch với người thân của họ. Tôi cảm thấy tôi không thể giả vờ rằng tôi không biết đứa cháu. Tôi biết bà ấy hơn 10 năm và chúng tôi cũng chia sẻ nhiều chuyện cá nhân với nhau. Nhưng tôi cũng biết rằng tôi phải bảo vệ quyền bảo mật của bệnh nhân nên phải giữ im lặng về những nỗi sợ, những hy vọng và những giấc mơ chưa thực hiện được của người cháu. Đối mặt với tình thế đạo đức nghề nghiệp khó xử này, tôi đã tự biện hộ cho bản thân mình bằng việc sẽ chăm sóc cho chàng trai trẻ trong lần tiếp theo anh ta nhập viện.

Giờ thì anh ấy tự sát rồi. Chỉ vài tháng sau khi tôi thừa nhận với chính mình rằng  những bí mật mình cất giữ phản ánh ý thức của tôi về việc mình đã thất bại như thế nào với người bà đó – và tôi cũng thiếu cả dũng khí để chạm mặt với bà ấy lần nữa.

Tôi bị ám ảnh bởi cuộc trò chuyện với cháu của bà suốt lần nhập viện cuối mà tôi chịu trách nhiệm theo sát anh ta. Anh ấy nói với tôi rằng anh cảm thấy hy vọng về cuộc sống trong khi ở bệnh viện nhưng thế giới ngoài kia thì thật khó lường. Đâu đó trong tâm trí bất định của tôi, tôi tin rằng đã làm anh ta thất vọng – Tôi thất bại với việc làm cho thế giới này trở nên lường trước được. Nếu đó là thứ đảm bảo để anh còn sống tới ngày hôm nay, lẽ ra tôi đã nên tìm cách để làm được điều đó.

Những đánh giá trong nội bộ bệnh viện nếu được phân tích và tách bạch khỏi những tác động về mặt cảm xúc sâu sắc được cảm nhận bởi những bác sĩ và các nhân viên khác. Với cương vị là một bác sĩ tôi cảm thấy bị ép buộc phải duy trì và thể hiện một sự trắc ẩn có lý do, việc chấp nhận sự mất mát bệnh nhân như một phương diện khác trong nghề nghiệp của tôi. Và lẽ đương nhiên như những con người khác, chuyện tự sát của bệnh nhân để lại cho tôi cảm giác mất mát.

Một người bạn thân hồi đại học, Tiến sĩ Heather Paxton đang làm việc tại một bệnh viện tâm thần bậc nhất bang Connecticut, nơi mà tôi cũng từng làm việc. Cô ấy miêu tả thế này: “Bạn sẽ không hề nhận ra rằng phóng xạ tác động nhiều như thế nào với bạn mãi cho đến sau này. Chuyện bệnh nhân tử vong do tự sát rất khó chịu, nhưng một số có thể thực sự gây chấn thương tâm lý.

Trong những ca tự sát mà Paxton đã làm việc trong suốt quá trình thực hành, một ca rất khó khăn liên quan tới một bệnh nhân trẻ muốn tự sát trong thời gian ngắn sau khi xuất viện. Cô ấy nhận ra mình có những cơn ác mộng thường xuyên và những ký ức không mong đợi. Cô nhận ra những điều này như là những dấu hiệu của stress sau sang chấn tạm thời.

Paxton cho rằng cô ấy may mắn. Những đồng nghiệp hiểu chuyện mà cô ấy đang trải qua, những thành viên của đội phản hồi khủng hoảng trong bệnh viện mời những bác sĩ lẫn điều dưỡng – những người từng làm việc với bệnh nhân đó để gặp mặt và nói về những chuyện đã xảy ra.

“Họ tạo ra một không gian và thừa nhận rằng bệnh nhân tự sát rất dễ gây căng thẳng. Nó là một trải nghiệm khó khăn thậm chí cho những người chăm sóc người khác.”

Tôi đã va vào Paxton ngay khi tôi vừa bước ra khỏi đơn vị nội trú sau khi nhìn thấy tin cáo phó. “Tôi rất lấy làm tiếc, tôi đã nghe tin về bệnh nhân của bạn,” cô ấy nói với tôi và chạm vào cánh tay tôi “tôi biết điều đó như thế nào”.  Đó là tất cả những gì cô ấy nói. Nhưng một vài từ này cũng có ý nghĩa rất nhiều. Tôi đã không cô độc.

Bệnh nhân tự sát được mô tả như một sự may rủi nghề nghiệp trong ngành tâm thần. Vào năm 2009, Bengi Melton và các đồng nghiệp từ trường Cao đẳng dược Baylor đã báo cáo trong Academic Psychiatry rằng chỉ một phần năm trưởng khoa tâm thần nội trú cảm thấy sẵn sàng đối mặt với hậu quả của một vụ tự sát của bệnh nhân. Như Paxton giải thích với tôi, hậu quả trở nên khó khăn hơn khi những bác sĩ tâm thần không được đào tạo về những gì phải mong đợi. 

Sự thiếu sót trong đào tạo có lẽ ngày càng rõ ràng hơn khi các bác sĩ tâm thần thấy mình đang ở trên tuyến đầu của một cuộc khủng hoảng sức khỏe tâm thần đang gia tăng. Theo Trung tâm kiểm soát dịch bệnh, tự sát hiện là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai ở những người trong độ tuổi từ 10 đến 34. Đáng báo động hơn nữa là tỷ lệ tự sát ở Mỹ tăng 28% từ năm 1999 đến năm 2006.

Tuy nhiên cũng có một vài trung tâm y tế đang bước từng bước để tạo ra những đội ngũ hỗ trợ cho các nhà lâm sàng của họ.

Một ví dụ là Bệnh viện Nhi đồng Boston. Vào năm 2003, họ đã quyết định thành lập một nhóm để can thiệp bất cứ khi nào có tình huống khó khăn liên quan đến bệnh nhân ảnh hưởng đến bất kỳ bác sĩ lâm sàng nào của bệnh viện. Lauren Coyne, một nhân viên xã hội và y tá trong Văn phòng hỗ trợ lâm sàng (OCS) của bệnh viện, đã đóng một vai trò quan trọng trong chương trình.

Tự sát khác với các trường hợp tử vong khác của bệnh nhân, Coyne lưu ý. Trong các bệnh mãn tính, các bác sĩ và gia đình thường có thể chuẩn bị cho cái chết của bệnh nhân. Không phải như vậy với tự sát, trong đó sự đột ngột mất mát có thể làm lung lay nền tảng của bất kỳ bác sĩ lâm sàng nào, cho dù là mới vào nghề hay kinh nghiệm sâu sắc. Văn phòng của cô phát hiện tới 300 trường hợp mới mỗi năm, Coyne cho biết các câu trả lời bắt đầu bằng nỗi buồn sâu sắc nhưng thường bao gồm một mối lo ngại ám ảnh rằng mọi việc lẽ ra nên được thực hiện khác hoặc tốt hơn để cứu bệnh nhân.

Điều quan trọng là đau buồn và mất mát có một vị trí trong cuộc đời của một bác sĩ tâm thần, giống như bất kỳ bác sĩ nào khác, chúng tôi cũng đối phó với các bệnh nan y. Tuy nhiên, tôi ước ai đó đã chuẩn bị cho tôi trong suốt những năm được đào tạo về cái chết của bệnh nhân. Tự sát có thể phòng ngừa được trong nhiều trường hợp, nhưng không phải tất cả, và khi chúng ta chăm sóc những bệnh nhân bị bệnh nặng thì điều này có thể xảy ra; nó không phải là một thất bại.

Các cơ quan cần phải đảm bảo rằng tác động cảm xúc sâu sắc mà các bác sĩ tâm thần cảm nhận phải được thừa nhận và cung cấp hỗ trợ phù hợp. Kiểm tra mang tính hình thức và các cuộc phỏng vấn bệnh viện thường không đề cập đến cảm giác mất mát hay đau buồn, mà thay vào đó tập trung vào việc xem xét phân tích các quyết định của nhóm lâm sàng. Sự chăm sóc bệnh nhân tâm thần không xảy ra cô lập chỉ trong văn phòng bác sĩ. Có nhiều hệ thống liên quan xác định hướng chăm sóc. Gánh nặng trách nhiệm không nên chỉ đặt lên một vài người. Mất mát này phải thuộc sở hữu của tất cả mọi người, chỉ khi những người đến với nhau để hỗ trợ lẫn nhau thì sau đó thì đám mây mù xấu hổ và tội lỗi mới có thể được dỡ bỏ.

Tôi tự hỏi liệu tôi có hành động khác đi với các nhân viên khác và bản thân mình không, nếu một đội tương tự như của Coyne hỗ trợ chúng tôi dù biết rằng có những người hiểu và không đổ lỗi. Có lẽ tôi đã nhìn vào bức tranh trong cáo phó lần thứ hai. Và tôi hy vọng rằng lẽ ra tôi nên gom đủ can đảm để nói với bà của cậu ta rằng tôi cảm thấy rất tiếc như thế nào.


Zheala Qayyum là một bác sĩ tâm thần trẻ em và vị thành niên và là giám đốc đào tạo liên kết cho chương trình nghiên cứu tâm thần học trẻ em và vị thành niên tại Bệnh viện nhi đồng Boston. Cô là một giảng viên tại Trường Y Harvard và Trường Y Yale.

Lược dịch: The Uranian

Đăng trong Therapy

Cách Một Nhà Trị Liệu Thương Tiếc

by Jon McNaught

Một hôm không lâu sau lần kiểm tra sinh thiết não, tôi ghé thăm Joseph trong bệnh viện, mang theo 2 chiếc sandwich lúa mạch đen kẹp thịt bò. Tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ thưởng thức bữa trưa cùng nhau, hết sức có thể trong những ngày mà anh ấy vẫn lúc tỉnh lúc mê.

Tôi vào phòng; Tôi thật may mắn! Joseph đã tỉnh. Háo hức, anh ấy mở chiếc bánh sandwich ra và đặt miếng dưa muối thìa là vào giữa hai miếng bánh. Anh bóc lớp trên cùng của bánh và nghiêng đầu sang một bên để nhìn cho kĩ.

“Thịt nạc hả?” Giọng của Joseph cất lên đầy hoài nghi.

Cô y tá ngồi trong góc đã phớt lờ chúng tôi từ đầu tới giờ. Cô hạ thấp một góc của tờ The Baltimore Sun để nhìn thấy Joseph với ánh nhìn miệt thị.

Joseph cất giọng, gần giống với giọng oang oang trước đây của mình. “ Tiến sĩ Weiss, lần sau nếu cô định mang thịt bò cho tôi… làm ơn, đừng mang thịt gân.”

Tôi cười. Đây đúng là Joseph mà tôi biết. Nhưng đó sẽ là câu nói mạch lạc cuối cùng tôi được nghe từ anh ấy. Hai tháng sau tôi sẽ dự đám tang của anh.

Tôi mở ngăn kéo tủ tài liệu của mình và truy xuất một số tập hồ sơ: những bệnh nhân đã chết trong khi tôi điều trị cho họ suốt 20 năm tôi hành nghề bác sĩ tâm thần độc lập. Tôi đang thu thập chất liệu để viết về cảm giác của các nhà trị liệu khi một bệnh nhân qua đời. Tôi thực hiện một vài quan sát.

Đầu tiên, tôi thấy rằng các hồ sơ vẫn nằm trong ngăn tủ tài liệu “đang hoạt động” của tôi. Tôi đã không chuyển chúng đến ngăn “ngưng hoạt động” – ngăn lớn hơn và chật chội hơn nhiều – ngôi nhà mà chúng nên thuộc về.

Thứ hai, tôi nhận thấy rằng tôi đã phát triển một nghi thức tưởng nhớ tự động. Bất cứ khi nào những ngón tay tôi chạm vào một trong các bìa hồ sơ của một bệnh nhân đã chết, tôi dừng lại và nhắm mắt trong giây phút ngắn ngủi nhất. Tôi tỏ lòng kính trọng thầm lặng đối với những người đã khuất.

Có gì đó ở đây. Phải chăng tôi đang cầu xin sự tha thứ vì đã phạm sai lầm? Vì chưa làm đủ? Có lẽ tôi đang tránh khỏi nỗi sợ hãi của chính mình về việc một ngày nào đó sẽ bị khóa chặt và lãng quên như thế này.

Bất kể ý nghĩa nào khác có thể có trong những nghi thức nhỏ, riêng tư này, tôi tin rằng chúng chủ yếu nói lên sự cô lập của nhà trị liệu khi bệnh nhân chết, và con người cần tạo ra nghi lễ khi cái chết xảy ra. Các nhà trị liệu thường không tham gia với những người trong cuộc sống của bệnh nhân họ. Không có ai gọi cho tôi về Joseph – không có gia đình hoặc bạn bè để chia sẻ những kỷ niệm, để cười hay để khóc.

Đừng hiểu lầm tôi; Tôi không thỉnh cầu sự thông cảm. Không thể so sánh nỗi mất mát của tôi với gia đình và bạn bè của bệnh nhân. Tuy nhiên, đây là một khía cạnh nghề nghiệp của tôi hiếm khi được thảo luận: Giống như những gì diễn ra trong phiên trị liệu đều xảy ra sau những cánh cửa đóng kín, nhà trị liệu cũng đau buồn sau khi một bệnh nhân qua đời.

Những nhà trị liệu thương tiếc một mình.

Trước khi tôi biết rằng một đám tế bào ung thư đang lén lút xâm nhập vào não của Joseph, tôi nghĩ rằng anh ấy và tôi có thể sẽ tiến triển đến một mức nào đó trong các phiên trị liệu. Joseph là một người đàn ông tài năng và mưu mẹo với vô số kế hoạch cho tương lai. Dù cho hàng loạt thứ nghiêm trọng đã xảy ra trong những năm đầu điều trị của anh như công việc kinh doanh gặp khó khăn, quan hệ gia đình căng thẳng và bạn bè xa lánh, những vấn đề này là sự tập trung cấp thiết của chúng tôi. Nhưng trong vài tháng qua, một số phần về cơ bản hơn đã được ổn thoả.

Khi còn nhỏ, anh chưa bao giờ được lắng nghe. Tất nhiên, còn nhiều điều hơn thế nữa, nhưng niềm tin của anh ấy rằng cha mẹ anh thực sự không thể nghe thấy anh là rất sâu sắc. Anh ấy đã được lắng nghe trong tiến trình trị liệu. Chí ít, anh ấy đã không phải la hét mọi lúc.

Trong phiên cuối cùng tại văn phòng của tôi, Joseph vẫn đến rất muộn như mọi khi. Anh hạ mình xuống chiếc ghế tựa bọc da, chùn bước vì đau nhức xương khớp và rên lên một tiếng hiện sinh: “Oy, gottenyu— vey ist mir.”Trời ơi – khốn nạn thân tôi. Anh lau trán bằng một chiếc khăn tay cũ.

Trước kia, những tràng chửi rủa bùng nổ của anh áp đảo cả tiếng vù vù nhẹ từ máy tạo tiếng ồn trắng để lọt vào đôi tai tò mò của bệnh nhân tiếp theo trong phòng chờ. Giờ điều đó đã nhường chỗ cho những giọt nước mắt dịu dàng trong các phiên như thế này. Tuy nhiên, vẫn khó để biết chính xác anh ấy sẽ xoay chuyển cuộc đời mình như thế nào. Đống đổ nát tàn dư của rất nhiều lần anh bùng nổ cảm xúc với những người thân thiết nhất đã chặn mất con đường được tha thứ, khiến anh bị tách biệt và cô đơn.

Joseph biết rằng tôi bị kích thích khi nghe anh ấy gọi tôi là “Weiss”, và anh ấy hay đùa khi rời khỏi phiên trị liệu, “Tôi sẽ nói với Rosenbaum rằng Weiss và tôi đã làm rất tốt ngày hôm nay.” (Bạn của anh ấy, Rosenbaum đã giới thiệu anh với “món” trị liệu này .)

Nhưng sau đó tin dữ đột nhiên đến và anh ấy nhanh chóng sa sút. Tất cả phiên trị liệu đều ngừng lại với hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn – chúng tôi tin rằng sẽ có lúc nào đó như vậy. Nhưng thời gian của Joseph đã hết.

Đây là một điều thầm kín mà các nhà trị liệu hiếm khi thừa nhận: Chúng ta thường phát triển tình cảm với bệnh nhân của mình.

Tôi không nói về phản chuyển di (nghĩa là khi nhà trị liệu nảy sinh tình cảm không đúng chỗ với bệnh nhân, thứ xuất phát từ các mối quan hệ trong cuộc sống của chính nhà trị liệu). Tôi đang nói về tình yêu thực sự, thứ hiện ra sau nhiều năm trở thành người mẹ “đủ tốt” của ai đó, như cách nhà phân tâm học D. W. Winnicott gọi một phụ huynh cung cấp được môi trường thích hợp cho sự phát triển bình thường của một người.

Một nhà trị liệu có thể dành hàng trăm giờ, có khi hơn một nghìn giờ để nghe về những khát vọng cao cả nhất của bệnh nhân và những huyễn tưởng đầy thù hận, hung ác nhất của bệnh nhân. Trong thời gian này, bệnh nhân có thể chịu đựng những mất mát quá lớn, những nỗi nhục nhã không thể chịu đựng, những nỗi buồn cay đắng và những thành công vĩ đại. Bạn có thể đồng hành với bệnh nhân đi qua những đau khổ từ tuổi thiếu niên đến tuổi trưởng thành. Hoặc bạn có thể gặp họ ở tuổi trung niên, vẫn bên họ khi họ già đi và cuối cùng là chết. Bạn cộng tác với họ trong một quá trình khám phá sâu thẳm.

Rất ít cuộc gặp gỡ giữa nhà trị liệu và bệnh nhân có thể trở nên chân thật một cách sâu sắc và hình thành sự thân mật. Sự gắn bó tạo ra những cảm giác sâu sắc, một loại tình yêu đặc biệt.

Tôi đã có một tình yêu của nhà trị liệu dành cho Joseph.

Tại đám tang của Joseph, tôi ngồi ở hàng ghế sau – vị trí của nhà trị liệu – tay cầm hộp khăn giấy. Tôi đến đây không phải để được nhìn thấy hay vì lợi ích của gia đình anh. Tôi được thúc đẩy đến đây bởi mong muốn được nói lời tạm biệt với bệnh nhân của mình.

Các nhân vật quen thuộc xuất hiện trong giáo đường Do Thái, tôi nhớ ra họ từ những câu chuyện đã nghe qua nhiều năm trong các phiên trị liệu của Joseph. Bây giờ tôi nhìn thấy bạn bè, kẻ thù và gia đình của anh ấy bằng xương bằng thịt. Tôi biết nhiều về đời sống tình cảm của anh ấy hơn bất cứ ai khác ở đây. Tôi cũng biết khá nhiều về những người này (tất nhiên là theo góc nhìn của Joseph) nhiều hơn những gì họ muốn tôi biết. Đó là một lý do khác khiến tôi ngồi lại ở hàng sau cùng: Tôi không muốn gây khó chịu cho họ.

Đám tang kết thúc. Mọi người tụ tập lại để an ủi nhau. Tôi lặng lẽ rời khỏi tòa nhà tối tăm và bước ra dưới ánh nắng chói chang. Chẳng bao lâu nữa họ sẽ tập hợp lại và ăn những món mà tôi cũng thích – bánh vòng, kem phô mai, trứng luộc và cá hun khói. Trong một khoảnh khắc, tôi ước mình có thể tham gia cùng họ. Họ sẽ cười rồi khóc với những câu chuyện bất tận về Joseph. Họ sẽ bắt đầu một tiến trình tang chế bình thường – lưu giữ hình ảnh của anh trong nội tâm họ, những ký ức mà họ sẽ nuôi dưỡng và tô điểm thêm – làm dịu đi cảm giác mất mát về Joseph, và họ cũng nên làm như vậy.

Tôi rời đi với những bí mật còn nguyên vẹn của anh ấy. Những hy vọng và những giấc mơ kỳ diệu của anh ấy giờ là của tôi, để ôm ấp, để tôn vinh anh ấy cho đến khi tôi mất đi trí nhớ của chính mình, hoặc khi tôi chết.

Các chi tiết đã được thay đổi để bảo vệ quyền riêng tư của bệnh nhân.

Nguồn: opinionator.blogs.nytimes.com

Tác giả: Robin Weiss, là một bác sĩ tâm thần ở Baltimore.

Lược Dịch: The Uranian

Đăng trong Tâm lý học thường thức

Làm Thế Nào Để Hỏi Ai Đó Về Việc Tự Sát?

Tôi nhớ lần đầu tiên khi tôi hỏi một thân chủ rằng liệu người ấy đã từng có suy nghĩ về tự sát chưa. Tôi cảm thấy sợ hãi. Tôi có cảm giác mình hơi quá trớn. Và đâu đó sâu thẳm bên trong tôi, tôi thật sự không muốn biết câu trả lời cho lắm. Tôi không chắc rằng tôi sẽ phản hồi lại tốt nếu nghe được câu trả lời là “có”, và tôi thậm chí còn lo lắng rằng mình sẽ làm tình hình tệ hơn.

 Và câu chuyện này diễn ra sau khi tôi đã được tập huấn, giám sát và trải nghiệm nhiều năm rồi.

Cho dù chúng ta có là ba mẹ, thầy cô, nhà tham vấn, đồng nghiệp, bạn bè hay là một thành viên trong gia đình, con người chúng ta vẫn có tiềm thức sợ hãi các cuộc trò chuyện liên quan đến chủ đề tự sát. Nỗi sợ đó nằm sâu thẳm trong lòng chúng ta. Nhưng nỗi sợ hãi đó đang cản trở khả năng của chúng ta trong việc hỗ trợ cho người khác trong những ngày khó khăn nhất của họ.

Sau khi anh trai tôi mất vì tự sát vào năm 2004, tôi đã hứa rằng mình sẽ phải học thêm về tự sát – đặc biệt là cách để cởi mở nói về việc này. Vì thế, khoảng thời gian 14 năm dành sự tập trung vào các chuyên gia đầu ngành, các nhà nghiên cứu và những người đã sống sót qua cơn khủng hoảng tự sát đã giúp tôi tích lũy một số phương pháp hay nhất để nói chuyện về chủ đề tự sát. Nếu bạn cần những điều này, tôi hy vọng chúng có thể giúp bạn.

CÁCH ĐỂ BẮT ĐẦU CÂU CHUYỆN

Tìm hiểu. Cách thực tế nhất để hiểu biết chính là đi hỏi. Nếu bạn quan sát thấy hành vi hoặc những dấu hiệu khiến bạn lo lắng, hãy hỏi. Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra khi bạn đánh giá sai là bạn có thể sẽ cảm thấy xấu hổ một chút. Ý nghĩ tự sát thường là dấu hiệu cảnh báo quan trọng cho thấy điều gì đó đang không ổn; những mức độ khác nhau về xúc cảm mãnh liệt thường được thấy ở những người đang rơi vào thời kỳ khó khăn. Khi bạn cảm thấy “Giác quan thứ sáu” của bạn bồn chồn hay tự hỏi “Tôi có nên lo lắng không?” – hãy tìm hiểu. Hãy hỏi.

Hiểu biết nguồn lực của bạn. Hãy làm quen với những nguồn lực hỗ trợ mà bạn có trong cộng đồng. Một vài ví dụ như là phòng tham vấn học đường, chương trình hỗ trợ nhân viên, một cơ quan sức khỏe tâm thần cộng đồng tại địa phương, hoặc các nguồn hỗ trợ khủng hoảng của quốc gia như Đường dây nóng ngăn ngừa tự sát quốc gia hoặc Đường dây tin nhắn về khủng hoảng. Hãy tham gia vào cuộc trò chuyện này như một người hiểu rõ thông tin về nguồn lực.

Tập trở nên thoải mái với những cảm xúc không dễ chịu. Đối với nhiều người, việc hỏi về tự sát sẽ đánh thức nỗi lo âu – và điều đó có lý. Trò chuyện về sự sống và cái chết thì khá là căng thẳng. Hãy lưu ý và thừa nhận cảm xúc của bạn, và cố gắng hết sức để trở nên tĩnh tâm trước khi bạn bắt đầu cuộc trò chuyện. Sự hiện diện về mặt thể lý và cảm xúc của bạn sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nhịp điệu của cuộc trò chuyện. Vì vậy, hãy hít thở sâu và tập trung vào lòng trắc ẩn trong trái tim bạn.

Tạo ra một không gian an toàn. Tìm một nơi kín đáo và thoải mái. Dựa vào tình huống thì có thể chọn tản bộ bên ngoài hay là tìm một nơi yên tĩnh để ngồi xuống. Hãy tìm những tín hiệu để biết về mức độ gần gũi thể lý và cường độ giao tiếp ánh mắt phù hợp với họ. Một vài người thì thích ngồi cạnh nhau khi trò chuyện, một số khác lại thích ngồi mặt đối mặt. Nếu như bạn đang ngồi, hãy chắc chắn rằng ngôn ngữ cơ thể của bạn giao tiếp một cách cởi mở, hứng thú và bạn đang ngồi ngang tầm với người mà bạn trò chuyện. Hãy bỏ chút thời gian để tắt điện thoại và đóng cửa cẩn thận để cuộc trò chuyện không bị gián đoạn.

Bắt đầu bằng “Tôi chú ý thấy…” Hãy cảm ơn họ vì đã dành thời gian để trò chuyện cùng bạn, và liệt kê ra những điều bạn quan sát thấy khiến bạn trở nên lo lắng. Nói về những thời điểm và không gian cụ thể khi mà họ không giống với bình thường. Có thể bạn chú ý đến sự thay đổi trong tâm trạng của họ khi họ dễ cáu gắt hơn bình thường. Hoặc có thể bạn chú ý đến sự thay đổi về hành vi của họ, như là họ bắt đầu uống rượu/bia nhiều hơn. Có thể bạn biết được rằng họ vừa chia tay vợ/chồng hay người yêu cách đây không lâu.

Hỏi những câu hỏi mở. Để cuộc trò chuyện được tiếp tục, hãy hỏi câu hỏi mở, “Tôi muốn hiểu rõ hơn về những gì bạn đang phải trải qua. Bạn có thể kể cho tôi nghe thêm không?”

Luyện tập lắng nghe tích cực. Kiềm chế đưa ra giải pháp cho các vấn đề và lời khuyên. Thay vì vậy, hãy thể hiện cho họ thấy rằng họ đang được lắng nghe. Sử dụng các động tác động viên nho nhỏ như là gật đầu, và nói “Ừm” và “Và sau đó chuyện gì xảy ra?” để kéo dài cuộc trò chuyện.

CÁCH ĐẶT NHỮNG CÂU HỎI LIÊN QUAN ĐẾN TỰ SÁT

Điều chỉnh cách hỏi thể hiện sự thấu cảm và lòng trắc ẩn. “Bạn biết đấy, đôi lúc khi người ta trải qua những gì bạn đang phải trải qua, họ thường sẽ rơi vào một nỗi đau không gì có thể tưởng tượng được. Những ý nghĩ như, ‘Tôi ước tôi có thể chìm vào giấc ngủ và không bao giờ tỉnh lại vào buổi sáng’ sẽ xuất hiện trong tâm trí của họ vì nỗi đau đã vượt khỏi khả năng đương đầu của họ.”

Giả định rằng chuyện tự sát có thể xảy ra. Bởi vì ý nghĩ tự sát thường xuất hiện ở những người cảm thấy quá tải, nên bạn có thể nói một vài điều như, “Đôi lúc khi cảm xúc đau đớn trở nên quá mãnh liệt, con người sẽ nghĩ đến việc tự sát. Tôi tự hỏi liệu rằng có bao nhiêu lần ý nghĩ tự sát xuất hiện trong tâm trí bạn, cho dù nó chỉ là thoáng qua.”

Sử dụng ngôn ngữ trực tiếp. Sử dụng từ “tự sát” theo một cách trực tiếp, “Chúng ta có thể nói về nó ở đây.” Việc sử dụng ngôn ngữ trực tiếp như “tự sát” thay vì “tự làm đau bản thân” là rất quan trọng, vì chúng là 2 vấn đề khác nhau.

NHỮNG VIỆC NÊN LÀM SAU KHI ĐẶT CÂU HỎI VỀ TỰ SÁT

Nếu câu trả lời là “Không”: Chú ý những dấu hiệu không lời. Nếu như họ tỏ ra phòng bị và không thể giao tiếp bằng ánh mắt thì có khả năng là có điều gì đó khác đang diễn ra đằng sau những hành vi này. Trong trường hợp này, hãy chỉ ra các điểm mâu thuẫn và nói, “Bạn nói với tôi rằng bạn hiện đang rất ổn, nhưng bạn có vẻ không thể giao tiếp bằng ánh mắt với tôi. Bạn có thể cho tôi biết vì sao hay không?” Trong trường hợp này, bạn cần phải kiên trì bằng cách tiếp tục đặt câu hỏi  nhiều cách khác nhau.
Nếu câu trả lời “không” thật sự là “không” thì thường người ta sẽ bày tỏ lòng biết ơn vì bạn đã quan tâm và muốn giúp đỡ họ, sau đó họ sẽ tiếp tục kể về những khó khăn của họ.

Nếu câu trả lời không rõ ràng: Đôi khi người ta sẽ trả lời bằng một vài câu hỏi đại loại như, “Bạn nghĩ như thế nào?” hoặc người ta sẽ nói một vài điều như, “Không, không hẳn vậy.” Và cũng đôi khi, họ sẽ không trả lời  và lái sang một vài câu chuyện khác. Trong những trường hợp này, câu trả lời sẽ thường là “Có”. Một lần nữa, hãy nhắm vào điều này: “Khi tôi hỏi bạn câu hỏi trực tiếp về tự sát, bạn nói XYZ, vậy có đúng không khi tôi hiểu rằng việc tự sát đã từng xuất hiện trong tâm trí của bạn? Tôi có thể thông cảm rằng bạn có thể có nhiều lý do để lưỡng lự khi chia sẻ với tôi về việc này, nhưng tôi mong rằng chúng ta có thể cởi mở nhiều nhất có thể ngay bây giờ để tôi có cơ hội giúp đỡ bạn.”

Nếu câu trả lời là “Có”: Những từ đầu tiên phát ra từ miệng của bạn nên là, “Cảm ơn.” Hãy thể hiện sự biết ơn vì họ đã chia sẻ thật lòng với bạn và vì sự trân trọng của họ dành cho mối quan hệ này. Điều thứ hai bạn nên nói là cảm nghĩ về sự đồng hành – đại loại như, “Tôi đứng về phía bạn, và chúng ta sẽ cùng nhau tìm ra hướng giải quyết cho việc này. Tôi không muốn bạn chết.” Điều thứ ba nên nhắc đến chính là trao đi niềm hy vọng: “Tôi có một số việc để chúng ta có thể làm cùng nhau. Nếu chúng ta giúp bạn cảm thấy bớt tồi tệ, tôi đoán rằng bạn sẽ không còn nghĩ về việc tự sát nữa. Vậy thì hãy làm cùng nhau nào.”

Xây dựng cơ hội, và hành động ngay lập tức. Nhiều người đã từng trải nghiệm ý nghĩ muốn tự sát cảm thấy họ đã mất khả năng kiểm soát cuộc sống của mình. Tự sát tương tự như một thứ gì đó mà họ có thể tự kiểm soát. Để giúp họ phục hồi lại khả năng quản lý bản thân, việc tạo ra cơ hội rất quan trọng. Ví dụ, hãy hỏi rằng họ có muốn liên hệ với Đường dây ngăn chặn tự sát quốc gia hay Đường dây tin nhắn khủng hoảng hay không. Hãy hỏi rằng liệu họ có muốn nói chuyện qua điện thoại với một nhà tham vấn hay không, hoặc có muốn bạn giúp họ làm việc đó không.

Tuy nhiên, nếu họ tiết lộ về kế hoạch họ có thể dùng để tự sát của mình thì việc có một chuyên gia về sức khỏe tâm thần quyết định nên làm gì trong bước tiếp theo là rất cấp bách. Hãy nói, “Tự sát là một vấn đề quá nghiêm trọng để tôi có thể xử lý một mình. Tôi cần sự giúp đỡ để có thể giúp bạn. Tôi sẽ giới thiệu bạn đến một chuyên gia y khoa, người đã qua đào tạo và tiếp cận được nhiều nguồn lực hỗ trợ hơn.”

Tiếp tục theo dõi. Đôi khi là một cuộc hẹn cà phê hay ăn trưa. Đôi khi là đi dạo quanh công viên gần nhà hoặc là một chuyến đi biển. Đôi khi chỉ là một cuộc điện thoại đơn giản hoặc một chuyến ghé thăm sang nhà họ trên đường về nhà của bạn. Không cần quan tâm hình thức ra sao, hãy tạo một kế hoạch cụ thể để theo dõi bằng cách nói một vài điều tương tự như, “Tôi sẽ đến vào ngày mai để xem bạn như thế nào rồi.” Việc theo dõi sẽ khiến mọi việc trở nên rất khác, mặc cho buổi trò chuyện sẽ biến thành cái gì.

Trên đây chỉ là một số lời khuyên về cách xử lý khó khăn và nỗ lực cứu mạng trong việc cố gắng trò chuyện về tự sát. Và những cách này chỉ là bước khởi đầu. Tôi đề nghị rằng tất cả mọi người từ 15 tuổi trở lên cần hoàn thành các khóa đào tạo ngắn hạn liên quan đến việc ngăn chặn tự sát sau đây:

  • Đặt câu hỏi, Thuyết phục, Giới thiệu / Chuyển gửi (Question, Persuade, Refer [QPR])
  • Trò chuyện an toàn (safeTALK)
  • Chương trình đào tạo ứng dụng kỹ năng can thiệp tự sát (ASIST)
  • Chương trình phòng ngừa tự sát ở môi trường làm việc (Working Minds)

Bằng cách đầu tư vào các kỹ năng và khóa đào tạo này, bạn có thể cho một cá nhân đang gặp khó khăn biết rằng họ được nhìn nhận, họ được quan tâm và họ quan trọng. Có nhiều lý do chính đáng khiến mọi người không cảm thấy thoải mái khi tiết lộ ý định tự sát của mình, nhưng dù sao cũng không có bất kỳ lý do chính đáng nào nói rằng chúng ta không nên cố gắng giúp đỡ họ.

Đừng chờ đợi đến “khoảnh khắc thích hợp” để hỏi về tự sát; vì khoảnh khắc đó sẽ chẳng bao giờ đến đâu. Hãy cứ hỏi đi. Vì tự sát là một vấn đề nghiêm trọng, không ai nên giữ nó cho riêng mình.

Tác giả: Sally Spencer-Thomas, Tiến sĩ, là một nhà tâm lý học lâm sàng, một diễn giả quốc tế truyền cảm hứng và là một doanh nhân có tầm ảnh hưởng. Tiến sĩ Spencer-Thomas được chuyển đến làm việc trong lĩnh vực phòng chống tự sát sau khi anh trai cô, một doanh nhân ở Denver, chết vì tự sát sau một trận chiến khó khăn với tình trạng rối loạn lưỡng cực.

Lưu ý: Bài viết này ban đầu được xuất bản trên tạp chí Advocate ấn bản mùa đông năm 2018.

Lược dịch: Lan Anh

Hiệu Đính: Lyo Kiu + The Uranian