
Vào một buổi sáng sớm năm ngoái, Tiến sĩ Daniel Bender, bác sĩ tâm thần tại một đơn vị điều trị nội trú cho trẻ em và thanh thiếu niên ở Pittsburgh đang ngồi trong văn phòng của mình để xem lại số lượng hồ sơ thân chủ của mình. Anh có 12 bệnh nhân, tuổi từ 10 đến 17, một nửa trong số chúng đã được đưa vào bệnh viện vì cố gắng tự sát hoặc đấu tranh với những suy nghĩ về cái chết liên tục. Một số bị rối loạn loạn thần hoặc các vấn đề về hành vi, hầu hết sẽ ở lại bệnh viện trong vài ngày đến vài tuần.
Đến 9 giờ sáng, Bender đến phòng họp để tham gia với nhóm của anh (gồm một điều dưỡng, một nhân viên công tác xã hội và một bác sĩ nội trú) để nghe thông tin cập nhật về bệnh nhân của anh. Hai đồng nghiệp, cũng là bác sĩ tâm thần, đã điều trị cho khoảng 20 bệnh nhân khác. Mặc dù nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần đã tăng lên trong nhiều năm, nhưng chỉ 2/3 số giường được lấp kín chỗ trong đơn vị của Bender tại Bệnh viện Tâm thần Western (một phần của Trung tâm Y tế Đại học Pittsburgh,. U.P.M.C.), giống như nhiều bệnh viện khác, đơn giản là vì thiếu nhân viên để điều trị thêm cho nhiều trẻ em hơn. Rất nhiều y tá, trợ lý và các nhân viên khác đã nghỉ việc kể từ sau đại dịch. Bị quá tải bởi công việc, nghỉ hưu, đang tìm kiếm những công việc được trả lương cao hơn hoặc tìm thấy những nghề nghiệp hoàn toàn khác.
Các ca của Bender ngày hôm đó bao gồm một cậu bé 15 tuổi nói rằng sẽ tự sát sau khi bị cha mẹ điên tiết bắt quả tang cậu đang hút cần sa. Cậu ấy tin chắc rằng cha mẹ ghét mình. “Trẻ em có thể đe dọa và nói hoặc làm những điều điên rồ như vậy, nhưng không phải cha mẹ nào cũng đưa chúng đến bệnh viện,” Bender nói với nhóm và thắc mắc tại sao đứa trẻ được nhập viện. Sau đó, bác sĩ nội trú kể cho Bender nghe nhiều hơn về câu chuyện của cậu bé: Cậu đã không ăn hoặc ngủ được nhiều, đã tự cắt tay (một yếu tố nguy cơ dẫn đến tự sát) và tỏ ra ít quan tâm đến bất cứ điều gì, kể cả bạn bè của mình. Cha mẹ cậu đã tìm cho cậu một nhà trị liệu, người đã đề nghị thử dùng thuốc chống trầm cảm, nhưng cậu ấy đã từ chối; cậu lo lắng rằng thuốc sẽ làm cùn mòn cảm xúc của mình. Trong phiên hội chẩn, khoảng một giờ sau cuộc gặp trong phòng họp, Bender hỏi cậu bé rằng cậu tưởng tượng cuộc sống của mình sẽ như thế nào trong 5 năm tới kể từ bây giờ và cậu trả lời “Tất cả những điều tồi tệ nhất”.
Những đứa trẻ có ý định tự sát bị kẹt trong vòng xoáy của nỗi đau và những người xung quanh chúng thường không biết phải phản ứng thế nào. Một số bác sĩ nhi khoa, cũng như các nhà trị liệu, nhà tham vấn học đường và những người khác thiếu sự đào tạo tốt để có thể giúp một thiếu niên có ý định tự sát và điều này thật sự khiến cha mẹ chúng không biết phải làm gì. Bạn nên đưa con đến bệnh viện vào thời điểm nào? Nếu chúng từ chối đi thì sao? Nếu chúng thực hiện hành vi tự sát, bạn có cân nhắc việc nhập viện nội trú tại một cơ sở nơi mà con mình phải sống trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng không? Bạn có thể làm gì khác để bảo vệ chúng? Làm sao bạn biết chúng sẽ không chết vào lần tự sát tới? Bạn khóa hết tủ thuốc, cất dao dưới bếp hay súng nếu bạn có. Bạn tìm được một nhà trị liệu tốt, nếu bạn may mắn. Nhưng một thiếu niên luôn có thể tìm ra cách để chết. Hệ thống báo động, khóa an toàn hoặc bất kỳ quy tắc bảo vệ nào có thể chống lại được sự nỗ lực để chết của một đứa trẻ đang tuyệt vọng?
Số lượng thanh thiếu niên, đặc biệt là các bé gái, đang tuyệt vọng về cuộc sống của mình đang gia tăng. Theo một cuộc khảo sát của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh được công bố trong năm nay, ba trong số năm bé gái tuổi teen cảm thấy “buồn bã hoặc tuyệt vọng” dai dẳng vào năm 2021, tỷ lệ cao nhất trong một thập kỷ qua. Và gần như cứ ba bé gái thì có một bé nghiêm túc cân nhắc việc tự sát (tỷ lệ này gấp đôi ở bé trai); hơn một trong số 10 bé gái thực sự đã cố gắng tự sát. Mặc dù tỷ lệ tự sát ở các bé trai từ lâu đã cao hơn nhưng cảm giác buồn bã hoặc tuyệt vọng của chúng chưa hề tăng lên nhiều như vậy.
Các ca của Bender ngày hôm đó bao gồm một cô gái tuổi teen nhập viện vài ngày trước, sau khi cố gắng tự sát lần thứ hai bằng cách dùng thuốc quá liều. (Bender không bao giờ tiết lộ tên bệnh nhân của anh ấy cho tôi.) Cha mẹ cô ấy nói với một bác sĩ nội trú tại bệnh viện rằng họ đã bị sốc; những nỗ lực tự sát dường như đến từ sự buồn bã. Nhưng cô gái cho biết cô đã có ý nghĩ tự kết liễu đời mình từ năm lớp 5. Cô ấy nói với bác sĩ rằng một cuộc chia tay với bạn trai là yếu tố thúc đẩy cho lần này. Cha mẹ cô ấy thậm chí còn không biết cô ấy đang trong một mối quan hệ. Hai lần cố tự sát trong một năm khiến cả nhóm bác sĩ lo lắng. Bender và bác sĩ nội trú muốn cô đăng ký tham gia chương trình được gọi là nhập viện bán phần, kéo dài sáu giờ mỗi ngày, năm ngày một tuần và bao gồm trị liệu một một, trị liệu nhóm với các thanh thiếu niên khác và các cuộc hẹn hàng tuần với bác sĩ tâm thần. Sau lần đầu tiên nhập viện khi cố gắng tự sát nhiều tháng trước đó,, nhóm của Bender đã đề xuất chương trình tương tự cho gia đình nhưng cô ấy chưa bao giờ tham gia. Nhân viên công tác xã hội giải thích rằng vì gia đình không có bảo hiểm sức khoẻ nên sẽ phải đăng ký thêm gói hỗ trợ y tế. Họ cũng không có phương tiện để đưa con gái đi điều trị. Bender đề xuất phương pháp trị liệu dựa trên gia đình, trong đó các nhà trị liệu sẽ đến nhà để bắt đầu. “Có kiểu trị liệu gia đình nào mà chúng ta có thể giới thiệu cho cô ấy không? Bởi vì tôi luôn nghe nói là không có cơ hội nào để làm việc với cô ấy,” anh ấy hỏi cả nhóm.
Vài giờ sau, Bender gặp một sinh viên y năm ba, người đã trò chuyện cùng cô gái. Bender giải thích rằng cô ấy đã kiên quyết được xuất viện: “Cô ấy chỉ có một mục tiêu, đó là được ra ngoài – và anh đang cản đường cô ấy. Chuyện gì thực sự là gốc rễ của điều đó? Anh sẽ không bao giờ có được câu chuyện từ cô ấy. Để ý kỹ hơn đi, anh có để ý lúc tôi đi quanh bàn không? Cô ấy dõi nhìn theo tôi và không hề dám ngồi quay lưng lại với tôi.” Đối với Bender, sự cảnh giác của cô ấy cho thấy một tiền sử có sang chấn. Và điều đó chỉ dẫn đến nhiều câu hỏi hơn: Liệu cha mẹ cô ấy có vấn đề về sức khỏe tâm thần hay sử dụng chất kích thích không? Cô ấy có tiền sử bị lạm dụng tình dục hoặc thể chất không?
Bender nhớ đến một thiếu niên khác đã nhập viện vài tháng trước đó, trong ngày đầu tiên tôi ở cùng anh ta trong đơn vị. Cậu thiếu niên là người nhị nguyên giới và đã đến trung tâm Western Psych nhiều lần, lần gần đây nhất là sau khi dùng thuốc quá liều suýt chết. Người mẹ đang xem xét tìm một cơ sở nội trú điều trị cho những đứa trẻ có ý định tự sát cùng những thứ khác. Vào thời điểm đó, Bender và một nhà tâm thần nhi đã thảo luận về vai trò của mạng xã hội trong việc tạo điều kiện cho thanh thiếu niên hành động theo ý muốn tự sát của chúng. Sau đó, người bạn thú nhận rằng vụ này đã khiến cô ấy thức trắng đêm. “Tôi không biết liệu đi bệnh viện nội trú trong sáu tháng có khác với ở đây trong hai tuần hay không,” cô nói với Bender. “Nhưng tôi hiểu rằng nếu đó là con tôi, tôi cũng muốn đưa chúng vào khu nội trú cho an toàn hơn”.
Bender cũng hiểu điều đó. Anh ấy nói: “Mọi người đều muốn con mình được bao bọc và bảo vệ mọi lúc. Chúng ta có thể ngăn chặn một vụ tự sát bằng cách giữ chúng trong bệnh viện, nhưng có lẽ là chúng ta không thể.” Bender cảnh báo các bậc cha mẹ về những rủi ro khi tách trẻ ra khỏi những người chúng yêu thương, kể cả các thành viên trong gia đình (mặc dù một số trẻ có những rối loạn tâm thần mãn tính, bao gồm cả những trẻ có gia đình rối loạn chức năng nặng nề, có thể cần được chăm sóc đặc biệt hơn khi ở ngoài nhà). Anh ấy nói: “Bạn có thể sẽ làm trầm trọng vấn đề hơn, khiến đứa trẻ ngày càng cảm thấy ít được nhìn thấy hơn, ít được lắng nghe hơn.”
Các chuyên gia không thể dự đoán chắc chắn khi nào ai đó sẽ cố gắng tự sát. Trong một nghiên cứu nổi bật về những người tự sát, một phần ba số người được sàng lọc vào tháng trước khi họ chết phủ nhận họ có ý định tự sát vào thời điểm đó. Tiến sĩ David Brent, bác sĩ tâm thần tại Trường Y thuộc Đại học Pittsburgh và là một trong những chuyên gia hàng đầu của đất nước về tự sát ở tuổi vị thành niên, cho biết: “Chúng tôi không biết liệu họ đã không thành thật hay chuyện muốn chết đã diễn ra nhanh tới mức không trở tay kịp. Ngay cả khi bạn xác định được ai đang có nguy cơ, bạn cũng không thể dự đoán chính xác khi nào họ sẽ thực hiện hành vi rủi ro.” Và việc nhập viện cũng không thể làm nhiều hơn được vì đó là kiểu hỗ trợ ngắn hạn, được thiết kế để giúp trẻ ổn định và sau đó xuất viện, lý tưởng nhất vẫn là điều trị ngoại trú. “Chúng tôi sẽ xuất viện vào cuối tuần tới,” Bender nói với nhóm của mình. Anh ấy chỉ ra rằng cậu thiếu niên dường như có động lực để trở nên tốt hơn. Nhưng anh ấy thừa nhận: “Đó là một sự rủi ro vì chúng có thể tự sát bất cứ lúc nào, và đó cũng là sự giới hạn của nơi này (đơn vị nội trú).”
Bender, giống như rất nhiều bác sĩ nhi khoa và nhân viên sức khỏe tâm thần khác thấy mình đang ở tuyến đầu của cuộc khủng hoảng tuyệt vọng ở thanh thiếu niên, một cuộc khủng hoảng ảnh hưởng đến nhiều bộ phận của hệ thống y tế. Số lượt đến khoa cấp cứu dành cho trẻ em có vấn đề về tâm thần đã tăng trung bình 8% mỗi năm một cách đáng kinh ngạc từ năm 2015 đến năm 2020, các vấn đề liên quan đến tự sát và tự hại vượt xa các lượt nhập viện có các vấn đề sức khỏe tâm thần khác.
Không có đủ nhà trị liệu và bác sĩ tâm thần để đáp ứng đủ nhu cầu này. Hoa Kỳ chỉ có 14 bác sĩ tâm thần trẻ em và vị thành niên cho mỗi 100.000 trẻ em – có nhiều hơn ở khu vực thành thị, ít hơn ở nông thôn và những nơi hẻo lánh – và thời gian chờ để gặp được chúng có thể kéo dài hàng tháng. Các bác sĩ nhi khoa đã phải đối phó bằng cách kê đơn thuốc chống trầm cảm và các loại thuốc điều trị tâm thần khác cho những đứa trẻ có thể phải cần đến sự hỗ trợ bác sĩ tâm thần. Theo Tiến sĩ Abigail Schlesinger, giám đốc tâm thần học lâm sàng của trẻ em và thanh thiếu niên tại U.P.M.C, trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều bác sĩ nhi khoa bắt đầu gọi đến đường dây TiPS của U.P.M.C., (một dịch vụ hỗ trợ cho các đơn vị cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu quyền được hỗ trợ từ bác sĩ tâm thần trẻ em và thanh thiếu niên). Các bác sĩ không chỉ gọi điện để hỏi cách kê đơn thuốc điều trị tâm thần; họ cũng đang tìm kiếm lời khuyên cho những đứa trẻ có vấn đề về sức khỏe tâm thần hoặc đang có ý định tự sát. Họ cần được giúp để đem đến các dịch vụ phù hợp cho trẻ em. Một số cũng thừa nhận họ cảm thấy mất mát khi trẻ tự sát thành công. Họ còn cân nhắc việc giải nghệ.
Bender dấn thân vào lĩnh vực này – ngoài tâm thần học, anh ấy còn được đào tạo về liệu pháp tâm động học, một hình thức trị liệu chuyên sâu bằng trò chuyện – một phần vì anh ấy từng là một thiếu niên mà bạn bè luôn tìm đến để tâm sự, và anh ấy không bao giờ quên rằng cuộc sống có thể trở nên mất kiểm soát như thế nào khi bạn còn là một thiếu niên. Anh ấy muốn một nghề nghiệp cho phép anh ấy giúp đỡ trẻ em nhiều nhất có thể bằng cách kê đơn thuốc và cung cấp trị liệu. Bender, người vẫn mang khuôn mặt trẻ con ở tuổi 35, chải tóc gọn gàng và thích mặc áo sơ mi kẻ sọc (anh không bao giờ mặc áo bác sĩ). Anh ấy là một người hâm mộ phim kinh dị, đồ trang trí văn phòng của anh ấy bao gồm một tấm áp phích từ phim “Halloween” và những bức tượng nhỏ như Pennywise, Người Sói và Stripe từ phim “Gremlins”. Với bệnh nhân của mình (những người không gặp anh tại văn phòng), Bender đóng vai trò là người bạn tâm sự đầy cởi mở và tò mò. Vào thời điểm anh ấy đến gặp một số trẻ, chúng nói với anh như cách anh nói với tôi “quá mệt mỏi rồi” – chán nản với trường học, cha mẹ, tình bạn hết lần này đến lần khác, các mối quan hệ yêu đương, sự thiếu kiểm soát của chúng đối với hầu hết mọi thứ ngoại trừ mạng sống. “Chúng điên, rất điên,” anh nói. Một người đã ném nước táo vào mặt anh; hai cô gái còn đe dọa sẽ giết anh sau khi họ nói rằng họ đã tìm thấy địa chỉ của anh trên internet. Anh kể “Tôi nói với bọn trẻ rằng, hãy cứ ghét tôi đi nếu bạn cần. Tôi mong bạn có thể ghét tôi thay vì phải ghét cha mẹ của mình.”
Mục tiêu của anh ấy là để có thể hiểu được cảm giác khi là chúng chứ không phải tới gặp để nói cho chúng biết cần phải làm gì. Bender đã giành được nhiều giải thưởng về giảng dạy và chăm sóc lâm sàng, anh cho biết: “Khi bạn không thể hiểu được nỗi tuyệt vọng của mình, thì tôi có thể hiểu được.” Không phải cảm giác làm ‘chuyên gia’, mà là cảm giác thực tế về những gì có thể đang diễn ra với bọn trẻ. Tôi có thể giúp chúng cảm thấy được đón nhận và cam kết, hoặc ít nhất sẽ không phản ứng giống như gia đình chúng. Tôi sẽ không hiểu mọi thứ được khi chỉ có như vậy nhưng chúng ta có thể bắt đầu có một cái nhìn rõ hơn về câu chuyện thực sự phía sau là gì, và tôi hy vọng cũng giúp các bậc cha mẹ làm được như vậy.”
