Đăng trong Therapy

Các Nhà Lâm Sàng Sẽ Đi Về Đâu Khi Bệnh Nhân Của Họ Tự Sát

Một y tá cho tôi xem bài báo ngay khi tôi vừa bước vào. Tôi nhìn thấy một gương mặt cười của chàng trai trẻ mà tôi đã chăm sóc từ khi anh ấy còn là một cậu thiếu niên. Sau vài lần tự hoại và đe doạ tự sát, cậu được nhận vào bệnh viện Connecticut, nơi tôi đang làm việc với vai trò là bác sĩ tâm thần nhi và thanh thiếu niên. Tôi ước tôi được nhìn thấy nụ cười đó suốt quá trình điều trị, nụ cười đó trông thật chân thật. Nhưng nụ cười trên bài báo lại là một bài cáo phó.

Tôi như vụn vỡ. Tôi chẳng biết làm gì với cảm giác của mình và thấy nhục nhã nếu để người ta biết. Lượng giá tự sát là một phần cơ bản trong chương trình đào tạo tâm thần của tôi, nhưng làm gì khi tự sát chưa diễn ra. Điều này đúng cho rất nhiều chương trình đào tạo tâm thần dọc theo cả nước. Điều cần nhấn mạnh ở đây là họ coi trọng việc phòng ngừa tự sát nhưng không hề có đủ sự tập trung trong việc chuẩn bị cho những bác sĩ thực tập về chuyện mất mát bệnh nhân bởi tự sát hay việc làm sao để đương đầu với kết quả sau đó.

Cái chết của chàng trai trẻ này đặc biệt đau lòng với tôi vì anh ấy không phải là người hoàn toàn xa lạ. Lần nhập viện cuối cùng của anh là hai tháng trước khi anh chết, và cũng là lần đầu tiên tôi không phụ trách chăm sóc cho anh. Chỉ trước lần nhập viện đó, quý bà dễ thương đã sửa quần áo cho tôi và đề cập rằng cháu bà đã nhập viện được vài lần rồi. Bà ấy biết tôi là bác sĩ tâm thần và bắt đầu kể về hành trình gian khổ mà gia đình bà phải đối mặt vì sự chiến đấu với vấn đề sức khoẻ tâm thần của cháu mình. Sau đó bà ấy nhắc tên anh. Trong lĩnh vực của tôi – cái dựa vào sự tin tưởng tuyệt đối của bệnh nhân, điều này khá khó khi mà vừa điều trị cho ai đó, vừa phải có mối quan hệ tách bạch với người thân của họ. Tôi cảm thấy tôi không thể giả vờ rằng tôi không biết đứa cháu. Tôi biết bà ấy hơn 10 năm và chúng tôi cũng chia sẻ nhiều chuyện cá nhân với nhau. Nhưng tôi cũng biết rằng tôi phải bảo vệ quyền bảo mật của bệnh nhân nên phải giữ im lặng về những nỗi sợ, những hy vọng và những giấc mơ chưa thực hiện được của người cháu. Đối mặt với tình thế đạo đức nghề nghiệp khó xử này, tôi đã tự biện hộ cho bản thân mình bằng việc sẽ chăm sóc cho chàng trai trẻ trong lần tiếp theo anh ta nhập viện.

Giờ thì anh ấy tự sát rồi. Chỉ vài tháng sau khi tôi thừa nhận với chính mình rằng  những bí mật mình cất giữ phản ánh ý thức của tôi về việc mình đã thất bại như thế nào với người bà đó – và tôi cũng thiếu cả dũng khí để chạm mặt với bà ấy lần nữa.

Tôi bị ám ảnh bởi cuộc trò chuyện với cháu của bà suốt lần nhập viện cuối mà tôi chịu trách nhiệm theo sát anh ta. Anh ấy nói với tôi rằng anh cảm thấy hy vọng về cuộc sống trong khi ở bệnh viện nhưng thế giới ngoài kia thì thật khó lường. Đâu đó trong tâm trí bất định của tôi, tôi tin rằng đã làm anh ta thất vọng – Tôi thất bại với việc làm cho thế giới này trở nên lường trước được. Nếu đó là thứ đảm bảo để anh còn sống tới ngày hôm nay, lẽ ra tôi đã nên tìm cách để làm được điều đó.

Những đánh giá trong nội bộ bệnh viện nếu được phân tích và tách bạch khỏi những tác động về mặt cảm xúc sâu sắc được cảm nhận bởi những bác sĩ và các nhân viên khác. Với cương vị là một bác sĩ tôi cảm thấy bị ép buộc phải duy trì và thể hiện một sự trắc ẩn có lý do, việc chấp nhận sự mất mát bệnh nhân như một phương diện khác trong nghề nghiệp của tôi. Và lẽ đương nhiên như những con người khác, chuyện tự sát của bệnh nhân để lại cho tôi cảm giác mất mát.

Một người bạn thân hồi đại học, Tiến sĩ Heather Paxton đang làm việc tại một bệnh viện tâm thần bậc nhất bang Connecticut, nơi mà tôi cũng từng làm việc. Cô ấy miêu tả thế này: “Bạn sẽ không hề nhận ra rằng phóng xạ tác động nhiều như thế nào với bạn mãi cho đến sau này. Chuyện bệnh nhân tử vong do tự sát rất khó chịu, nhưng một số có thể thực sự gây chấn thương tâm lý.

Trong những ca tự sát mà Paxton đã làm việc trong suốt quá trình thực hành, một ca rất khó khăn liên quan tới một bệnh nhân trẻ muốn tự sát trong thời gian ngắn sau khi xuất viện. Cô ấy nhận ra mình có những cơn ác mộng thường xuyên và những ký ức không mong đợi. Cô nhận ra những điều này như là những dấu hiệu của stress sau sang chấn tạm thời.

Paxton cho rằng cô ấy may mắn. Những đồng nghiệp hiểu chuyện mà cô ấy đang trải qua, những thành viên của đội phản hồi khủng hoảng trong bệnh viện mời những bác sĩ lẫn điều dưỡng – những người từng làm việc với bệnh nhân đó để gặp mặt và nói về những chuyện đã xảy ra.

“Họ tạo ra một không gian và thừa nhận rằng bệnh nhân tự sát rất dễ gây căng thẳng. Nó là một trải nghiệm khó khăn thậm chí cho những người chăm sóc người khác.”

Tôi đã va vào Paxton ngay khi tôi vừa bước ra khỏi đơn vị nội trú sau khi nhìn thấy tin cáo phó. “Tôi rất lấy làm tiếc, tôi đã nghe tin về bệnh nhân của bạn,” cô ấy nói với tôi và chạm vào cánh tay tôi “tôi biết điều đó như thế nào”.  Đó là tất cả những gì cô ấy nói. Nhưng một vài từ này cũng có ý nghĩa rất nhiều. Tôi đã không cô độc.

Bệnh nhân tự sát được mô tả như một sự may rủi nghề nghiệp trong ngành tâm thần. Vào năm 2009, Bengi Melton và các đồng nghiệp từ trường Cao đẳng dược Baylor đã báo cáo trong Academic Psychiatry rằng chỉ một phần năm trưởng khoa tâm thần nội trú cảm thấy sẵn sàng đối mặt với hậu quả của một vụ tự sát của bệnh nhân. Như Paxton giải thích với tôi, hậu quả trở nên khó khăn hơn khi những bác sĩ tâm thần không được đào tạo về những gì phải mong đợi. 

Sự thiếu sót trong đào tạo có lẽ ngày càng rõ ràng hơn khi các bác sĩ tâm thần thấy mình đang ở trên tuyến đầu của một cuộc khủng hoảng sức khỏe tâm thần đang gia tăng. Theo Trung tâm kiểm soát dịch bệnh, tự sát hiện là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai ở những người trong độ tuổi từ 10 đến 34. Đáng báo động hơn nữa là tỷ lệ tự sát ở Mỹ tăng 28% từ năm 1999 đến năm 2006.

Tuy nhiên cũng có một vài trung tâm y tế đang bước từng bước để tạo ra những đội ngũ hỗ trợ cho các nhà lâm sàng của họ.

Một ví dụ là Bệnh viện Nhi đồng Boston. Vào năm 2003, họ đã quyết định thành lập một nhóm để can thiệp bất cứ khi nào có tình huống khó khăn liên quan đến bệnh nhân ảnh hưởng đến bất kỳ bác sĩ lâm sàng nào của bệnh viện. Lauren Coyne, một nhân viên xã hội và y tá trong Văn phòng hỗ trợ lâm sàng (OCS) của bệnh viện, đã đóng một vai trò quan trọng trong chương trình.

Tự sát khác với các trường hợp tử vong khác của bệnh nhân, Coyne lưu ý. Trong các bệnh mãn tính, các bác sĩ và gia đình thường có thể chuẩn bị cho cái chết của bệnh nhân. Không phải như vậy với tự sát, trong đó sự đột ngột mất mát có thể làm lung lay nền tảng của bất kỳ bác sĩ lâm sàng nào, cho dù là mới vào nghề hay kinh nghiệm sâu sắc. Văn phòng của cô phát hiện tới 300 trường hợp mới mỗi năm, Coyne cho biết các câu trả lời bắt đầu bằng nỗi buồn sâu sắc nhưng thường bao gồm một mối lo ngại ám ảnh rằng mọi việc lẽ ra nên được thực hiện khác hoặc tốt hơn để cứu bệnh nhân.

Điều quan trọng là đau buồn và mất mát có một vị trí trong cuộc đời của một bác sĩ tâm thần, giống như bất kỳ bác sĩ nào khác, chúng tôi cũng đối phó với các bệnh nan y. Tuy nhiên, tôi ước ai đó đã chuẩn bị cho tôi trong suốt những năm được đào tạo về cái chết của bệnh nhân. Tự sát có thể phòng ngừa được trong nhiều trường hợp, nhưng không phải tất cả, và khi chúng ta chăm sóc những bệnh nhân bị bệnh nặng thì điều này có thể xảy ra; nó không phải là một thất bại.

Các cơ quan cần phải đảm bảo rằng tác động cảm xúc sâu sắc mà các bác sĩ tâm thần cảm nhận phải được thừa nhận và cung cấp hỗ trợ phù hợp. Kiểm tra mang tính hình thức và các cuộc phỏng vấn bệnh viện thường không đề cập đến cảm giác mất mát hay đau buồn, mà thay vào đó tập trung vào việc xem xét phân tích các quyết định của nhóm lâm sàng. Sự chăm sóc bệnh nhân tâm thần không xảy ra cô lập chỉ trong văn phòng bác sĩ. Có nhiều hệ thống liên quan xác định hướng chăm sóc. Gánh nặng trách nhiệm không nên chỉ đặt lên một vài người. Mất mát này phải thuộc sở hữu của tất cả mọi người, chỉ khi những người đến với nhau để hỗ trợ lẫn nhau thì sau đó thì đám mây mù xấu hổ và tội lỗi mới có thể được dỡ bỏ.

Tôi tự hỏi liệu tôi có hành động khác đi với các nhân viên khác và bản thân mình không, nếu một đội tương tự như của Coyne hỗ trợ chúng tôi dù biết rằng có những người hiểu và không đổ lỗi. Có lẽ tôi đã nhìn vào bức tranh trong cáo phó lần thứ hai. Và tôi hy vọng rằng lẽ ra tôi nên gom đủ can đảm để nói với bà của cậu ta rằng tôi cảm thấy rất tiếc như thế nào.


Zheala Qayyum là một bác sĩ tâm thần trẻ em và vị thành niên và là giám đốc đào tạo liên kết cho chương trình nghiên cứu tâm thần học trẻ em và vị thành niên tại Bệnh viện nhi đồng Boston. Cô là một giảng viên tại Trường Y Harvard và Trường Y Yale.

Lược dịch: The Uranian

Đăng trong Therapy

Cách Một Nhà Trị Liệu Thương Tiếc

by Jon McNaught

Một hôm không lâu sau lần kiểm tra sinh thiết não, tôi ghé thăm Joseph trong bệnh viện, mang theo 2 chiếc sandwich lúa mạch đen kẹp thịt bò. Tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ thưởng thức bữa trưa cùng nhau, hết sức có thể trong những ngày mà anh ấy vẫn lúc tỉnh lúc mê.

Tôi vào phòng; Tôi thật may mắn! Joseph đã tỉnh. Háo hức, anh ấy mở chiếc bánh sandwich ra và đặt miếng dưa muối thìa là vào giữa hai miếng bánh. Anh bóc lớp trên cùng của bánh và nghiêng đầu sang một bên để nhìn cho kĩ.

“Thịt nạc hả?” Giọng của Joseph cất lên đầy hoài nghi.

Cô y tá ngồi trong góc đã phớt lờ chúng tôi từ đầu tới giờ. Cô hạ thấp một góc của tờ The Baltimore Sun để nhìn thấy Joseph với ánh nhìn miệt thị.

Joseph cất giọng, gần giống với giọng oang oang trước đây của mình. “ Tiến sĩ Weiss, lần sau nếu cô định mang thịt bò cho tôi… làm ơn, đừng mang thịt gân.”

Tôi cười. Đây đúng là Joseph mà tôi biết. Nhưng đó sẽ là câu nói mạch lạc cuối cùng tôi được nghe từ anh ấy. Hai tháng sau tôi sẽ dự đám tang của anh.

Tôi mở ngăn kéo tủ tài liệu của mình và truy xuất một số tập hồ sơ: những bệnh nhân đã chết trong khi tôi điều trị cho họ suốt 20 năm tôi hành nghề bác sĩ tâm thần độc lập. Tôi đang thu thập chất liệu để viết về cảm giác của các nhà trị liệu khi một bệnh nhân qua đời. Tôi thực hiện một vài quan sát.

Đầu tiên, tôi thấy rằng các hồ sơ vẫn nằm trong ngăn tủ tài liệu “đang hoạt động” của tôi. Tôi đã không chuyển chúng đến ngăn “ngưng hoạt động” – ngăn lớn hơn và chật chội hơn nhiều – ngôi nhà mà chúng nên thuộc về.

Thứ hai, tôi nhận thấy rằng tôi đã phát triển một nghi thức tưởng nhớ tự động. Bất cứ khi nào những ngón tay tôi chạm vào một trong các bìa hồ sơ của một bệnh nhân đã chết, tôi dừng lại và nhắm mắt trong giây phút ngắn ngủi nhất. Tôi tỏ lòng kính trọng thầm lặng đối với những người đã khuất.

Có gì đó ở đây. Phải chăng tôi đang cầu xin sự tha thứ vì đã phạm sai lầm? Vì chưa làm đủ? Có lẽ tôi đang tránh khỏi nỗi sợ hãi của chính mình về việc một ngày nào đó sẽ bị khóa chặt và lãng quên như thế này.

Bất kể ý nghĩa nào khác có thể có trong những nghi thức nhỏ, riêng tư này, tôi tin rằng chúng chủ yếu nói lên sự cô lập của nhà trị liệu khi bệnh nhân chết, và con người cần tạo ra nghi lễ khi cái chết xảy ra. Các nhà trị liệu thường không tham gia với những người trong cuộc sống của bệnh nhân họ. Không có ai gọi cho tôi về Joseph – không có gia đình hoặc bạn bè để chia sẻ những kỷ niệm, để cười hay để khóc.

Đừng hiểu lầm tôi; Tôi không thỉnh cầu sự thông cảm. Không thể so sánh nỗi mất mát của tôi với gia đình và bạn bè của bệnh nhân. Tuy nhiên, đây là một khía cạnh nghề nghiệp của tôi hiếm khi được thảo luận: Giống như những gì diễn ra trong phiên trị liệu đều xảy ra sau những cánh cửa đóng kín, nhà trị liệu cũng đau buồn sau khi một bệnh nhân qua đời.

Những nhà trị liệu thương tiếc một mình.

Trước khi tôi biết rằng một đám tế bào ung thư đang lén lút xâm nhập vào não của Joseph, tôi nghĩ rằng anh ấy và tôi có thể sẽ tiến triển đến một mức nào đó trong các phiên trị liệu. Joseph là một người đàn ông tài năng và mưu mẹo với vô số kế hoạch cho tương lai. Dù cho hàng loạt thứ nghiêm trọng đã xảy ra trong những năm đầu điều trị của anh như công việc kinh doanh gặp khó khăn, quan hệ gia đình căng thẳng và bạn bè xa lánh, những vấn đề này là sự tập trung cấp thiết của chúng tôi. Nhưng trong vài tháng qua, một số phần về cơ bản hơn đã được ổn thoả.

Khi còn nhỏ, anh chưa bao giờ được lắng nghe. Tất nhiên, còn nhiều điều hơn thế nữa, nhưng niềm tin của anh ấy rằng cha mẹ anh thực sự không thể nghe thấy anh là rất sâu sắc. Anh ấy đã được lắng nghe trong tiến trình trị liệu. Chí ít, anh ấy đã không phải la hét mọi lúc.

Trong phiên cuối cùng tại văn phòng của tôi, Joseph vẫn đến rất muộn như mọi khi. Anh hạ mình xuống chiếc ghế tựa bọc da, chùn bước vì đau nhức xương khớp và rên lên một tiếng hiện sinh: “Oy, gottenyu— vey ist mir.”Trời ơi – khốn nạn thân tôi. Anh lau trán bằng một chiếc khăn tay cũ.

Trước kia, những tràng chửi rủa bùng nổ của anh áp đảo cả tiếng vù vù nhẹ từ máy tạo tiếng ồn trắng để lọt vào đôi tai tò mò của bệnh nhân tiếp theo trong phòng chờ. Giờ điều đó đã nhường chỗ cho những giọt nước mắt dịu dàng trong các phiên như thế này. Tuy nhiên, vẫn khó để biết chính xác anh ấy sẽ xoay chuyển cuộc đời mình như thế nào. Đống đổ nát tàn dư của rất nhiều lần anh bùng nổ cảm xúc với những người thân thiết nhất đã chặn mất con đường được tha thứ, khiến anh bị tách biệt và cô đơn.

Joseph biết rằng tôi bị kích thích khi nghe anh ấy gọi tôi là “Weiss”, và anh ấy hay đùa khi rời khỏi phiên trị liệu, “Tôi sẽ nói với Rosenbaum rằng Weiss và tôi đã làm rất tốt ngày hôm nay.” (Bạn của anh ấy, Rosenbaum đã giới thiệu anh với “món” trị liệu này .)

Nhưng sau đó tin dữ đột nhiên đến và anh ấy nhanh chóng sa sút. Tất cả phiên trị liệu đều ngừng lại với hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn – chúng tôi tin rằng sẽ có lúc nào đó như vậy. Nhưng thời gian của Joseph đã hết.

Đây là một điều thầm kín mà các nhà trị liệu hiếm khi thừa nhận: Chúng ta thường phát triển tình cảm với bệnh nhân của mình.

Tôi không nói về phản chuyển di (nghĩa là khi nhà trị liệu nảy sinh tình cảm không đúng chỗ với bệnh nhân, thứ xuất phát từ các mối quan hệ trong cuộc sống của chính nhà trị liệu). Tôi đang nói về tình yêu thực sự, thứ hiện ra sau nhiều năm trở thành người mẹ “đủ tốt” của ai đó, như cách nhà phân tâm học D. W. Winnicott gọi một phụ huynh cung cấp được môi trường thích hợp cho sự phát triển bình thường của một người.

Một nhà trị liệu có thể dành hàng trăm giờ, có khi hơn một nghìn giờ để nghe về những khát vọng cao cả nhất của bệnh nhân và những huyễn tưởng đầy thù hận, hung ác nhất của bệnh nhân. Trong thời gian này, bệnh nhân có thể chịu đựng những mất mát quá lớn, những nỗi nhục nhã không thể chịu đựng, những nỗi buồn cay đắng và những thành công vĩ đại. Bạn có thể đồng hành với bệnh nhân đi qua những đau khổ từ tuổi thiếu niên đến tuổi trưởng thành. Hoặc bạn có thể gặp họ ở tuổi trung niên, vẫn bên họ khi họ già đi và cuối cùng là chết. Bạn cộng tác với họ trong một quá trình khám phá sâu thẳm.

Rất ít cuộc gặp gỡ giữa nhà trị liệu và bệnh nhân có thể trở nên chân thật một cách sâu sắc và hình thành sự thân mật. Sự gắn bó tạo ra những cảm giác sâu sắc, một loại tình yêu đặc biệt.

Tôi đã có một tình yêu của nhà trị liệu dành cho Joseph.

Tại đám tang của Joseph, tôi ngồi ở hàng ghế sau – vị trí của nhà trị liệu – tay cầm hộp khăn giấy. Tôi đến đây không phải để được nhìn thấy hay vì lợi ích của gia đình anh. Tôi được thúc đẩy đến đây bởi mong muốn được nói lời tạm biệt với bệnh nhân của mình.

Các nhân vật quen thuộc xuất hiện trong giáo đường Do Thái, tôi nhớ ra họ từ những câu chuyện đã nghe qua nhiều năm trong các phiên trị liệu của Joseph. Bây giờ tôi nhìn thấy bạn bè, kẻ thù và gia đình của anh ấy bằng xương bằng thịt. Tôi biết nhiều về đời sống tình cảm của anh ấy hơn bất cứ ai khác ở đây. Tôi cũng biết khá nhiều về những người này (tất nhiên là theo góc nhìn của Joseph) nhiều hơn những gì họ muốn tôi biết. Đó là một lý do khác khiến tôi ngồi lại ở hàng sau cùng: Tôi không muốn gây khó chịu cho họ.

Đám tang kết thúc. Mọi người tụ tập lại để an ủi nhau. Tôi lặng lẽ rời khỏi tòa nhà tối tăm và bước ra dưới ánh nắng chói chang. Chẳng bao lâu nữa họ sẽ tập hợp lại và ăn những món mà tôi cũng thích – bánh vòng, kem phô mai, trứng luộc và cá hun khói. Trong một khoảnh khắc, tôi ước mình có thể tham gia cùng họ. Họ sẽ cười rồi khóc với những câu chuyện bất tận về Joseph. Họ sẽ bắt đầu một tiến trình tang chế bình thường – lưu giữ hình ảnh của anh trong nội tâm họ, những ký ức mà họ sẽ nuôi dưỡng và tô điểm thêm – làm dịu đi cảm giác mất mát về Joseph, và họ cũng nên làm như vậy.

Tôi rời đi với những bí mật còn nguyên vẹn của anh ấy. Những hy vọng và những giấc mơ kỳ diệu của anh ấy giờ là của tôi, để ôm ấp, để tôn vinh anh ấy cho đến khi tôi mất đi trí nhớ của chính mình, hoặc khi tôi chết.

Các chi tiết đã được thay đổi để bảo vệ quyền riêng tư của bệnh nhân.

Nguồn: opinionator.blogs.nytimes.com

Tác giả: Robin Weiss, là một bác sĩ tâm thần ở Baltimore.

Lược Dịch: The Uranian

Đăng trong Therapy

Liệu Pháp Nhận Thức Hành Vi CBT (Kỳ III) – Các Bài Tập Về Liệu Pháp Nhận Thức – Hành Vi

Nếu bạn là một nhà trị liệu đang tìm cách dẫn dắt thân chủ của bạn đi qua tiến trình điều trị hoặc là kiểu người thực tế thích học bằng cách thực hành thì có rất nhiều phiếu bài tập về liệu pháp Nhận thức – Hành vi (CBT – Cognitive Behavioral Therapy) có thể giúp ích cho bạn.

1. Lập công thức hành động thay thế

Phiếu bài tập này hướng dẫn người dùng liệt kê trước bất kỳ vấn đề hoặc khó khăn nào bạn đang gặp phải. Tiếp theo, bạn liệt kê các điểm yếu của mình (tức là tại sao bạn có nhiều khả năng gặp phải các vấn đề này hơn người khác) và các tác nhân kích hoạt (tức là sự kích thích hoặc nguồn gốc của các vấn đề này).

Một khi bạn đã xác định được các vấn đề và hiểu lý do tại sao bạn đang phải vật lộn với chúng, bạn sẽ tiếp tục liệt kê các chiến lược ứng phó. Đây không phải là giải pháp cho các vấn đề, mà là những cách thức bạn có thể giải quyết các tác động của vấn đề và chúng có thể mang lại hiệu quả tạm thời. Tiếp theo, bạn sẽ liệt kê các tác động của các chiến lược đối phó này, chẳng hạn như chúng khiến bạn cảm thấy như thế nào trong một khoản ngắn hạn và dài hạn cũng như những lợi thế và bất lợi của từng chiến lược.

Đọc tiếp “Liệu Pháp Nhận Thức Hành Vi CBT (Kỳ III) – Các Bài Tập Về Liệu Pháp Nhận Thức – Hành Vi”
Đăng trong Therapy

Liệu Pháp Nhận Thức Hành Vi CBT (Kỳ II) – Kỹ Thuật Và Công Cụ Cốt Yếu

9 kỹ thuật và công cụ cần thiết trong CBT

Có nhiều công cụ và kỹ thuật được dùng trong liệu pháp nhận thức – hành vi, nhiều kỹ thuật đã được phổ biến từ phạm vi trị liệu đến đời sống hằng ngày. 9 kỹ thuật và công cụ sau đây là những bài tập liệu pháp nhận thức – hành vi phổ biến và hiệu quả nhất.

Viết nhật ký

Kỹ thuật này là một cách “thu thập dữ liệu” về các tâm trạng và suy nghĩ của chúng ta. Nhật ký này có thể bao gồm thời điểm có cảm xúc/suy nghĩ đó, nguyên nhân, mức độ hoặc cường độ và cách chúng ta phản ứng với nó, giữa nhiều yếu tố khác. Kỹ thuật này giúp chúng ta xác định các kiểu suy nghĩ và xu hướng cảm xúc, mô tả và tìm ra cách thay đổi, thích nghi hoặc đối phó với chúng.

Cognitive Behavioral Activities

Làm sáng tỏ những biến dạng nhận thức

Đây là mục tiêu chính của liệu pháp nhận thức hành vi và có thể thực hành mà có hoặc không có sự giúp đỡ của nhà trị liệu. Để làm sáng tỏ những biến dạng nhận thức mà bạn đang có, đầu tiên bạn phải nhận thức được những biến dạng nào làm bạn chịu nhiều tổn thương nhất. Một phần của việc này liên quan đến việc xác định và thách thức những suy nghĩ tự động có hại của chúng ta, điều đã nằm trong những danh mục được liệt kê trước đó.

Tái cơ cấu nhận thức

Một khi bạn xác định được các biến dạng hoặc quan điểm sai lệch về thế giới mà bạn đang ôm khư khư, hãy bắt đầu tìm hiểu gốc rễ của biến dạng này và tại sao bạn tin vào nó. Khi bạn khám phá ra một niềm tin mang tính tiêu cực hoặc có hại, bạn có thể thách thức nó. Ví dụ, nếu bạn tin rằng bạn phải có một công việc lương cao để trở thành người được tôn trọng, nhưng nếu khi bạn mất công việc lương cao, bạn sẽ bắt đầu cảm thấy tồi tệ về bản thân.

Thay vì chấp nhận niềm tin tội lỗi này, thứ khiến bạn nghĩ về những suy nghĩ tiêu cực vô lý, bạn có thể nhân cơ hội để suy nghĩ về điều gì làm nên một người đáng được tôn trọng –  niềm tin mà trước đây bạn đã không suy xét rõ ràng.

Đối đầu và Phản ứng phòng ngừa

Kỹ thuật này đặc biệt hiệu quả với những người bị rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD). Bạn có thể thực hành kỹ thuật này bằng cách cho bản thân đối mặt với bất cứ điều gì mà thông thường gợi ra hành vi cưỡng chế nhưng cố hết sức kiềm chế hành vi đó và viết về nó. Bạn có thể kết hợp ghi nhật ký với kỹ thuật này hoặc sử dụng nhật ký để hiểu kỹ thuật này khiến bạn cảm thấy như thế nào.

Tiếp cận nội thị/Nhấn chìm

Kỹ thuật này được nhằm để điều trị hoảng loạn và lo âu. Chúng ta phải tiếp xúc với những cảm giác sợ hãi của cơ thể để khơi gợi phản ứng, kích hoạt bất kỳ niềm tin không có ích liên quan đến cảm giác sợ hãi, duy trì cảm giác mà không phân tâm hoặc tránh né, và cho phép học hỏi cảm giác mới này. Mục đích là giúp người bệnh thấy rằng các triệu chứng hoảng loạn không nguy hiểm, mặc dù chúng ta cảm thấy không thoải mái.

Đối đầu với cơn ác mộng và tái cấu trúc

Đối đầu với cơn ác mộng và tái cấu trúc được dành riêng cho những người gặp ác mộng. Kỹ thuật này tương tự như đối đầu, khi đó cơn ác mộng được khơi gợi, mang lại cảm xúc liên quan. Một khi cảm xúc đã nảy sinh, thân chủ và nhà trị liệu làm việc cùng nhau để xác định cảm xúc mong muốn và phát triển một  hình ảnh mới để đi cùng với cảm xúc ấy.

Giải mẫn cảm 

Kỹ thuật này đặc biệt hữu ích cho những người mắc chứng sợ hãi và lo âu. Trong kỹ thuật này, cá nhân dễ bị tổn thương bởi nguyên nhân gây sợ hãi hoặc lo âu tiến hành nhiều thí nghiệm bằng suy nghĩ, đó là nơi họ tưởng tượng kết quả xấu nhất của hoàn cảnh. Và để kịch bản này diễn ra như vậy có thể giúp cá nhân nhận ra rằng ngay cả khi mọi thứ họ sợ hãi cũng sẽ qua đi và hoá ra nó lại rất bình thường.

Thư giãn cơ tăng tiến (PMR)

Đây là một kỹ thuật quen thuộc với những người thực hành chánh niệm. Tương tự như kiểm tra cơ thể, kỹ thuật này hướng dẫn bạn thư giãn một nhóm cơ ở một thời điểm cho đến khi toàn bộ cơ thể trong trạng thái thư giãn. Bạn có thể sử dụng các bài giảng nói, video trên YouTube hoặc đơn giản là tâm trí của chính bạn để thực hành kỹ thuật này và nó có thể đặc biệt hữu ích để làm dịu thần kinh và làm dịu tâm trí bị xáo trộn và không tập trung.

Hít thở thư giãn

Đây là một kỹ thuật không chỉ dành riêng cho liệu pháp nhận thức – hành vi mà còn quen thuộc với những người thực hành chánh niệm. Có nhiều cách để thư giãn và giúp hơi thở đều đặn, có hoặc không cần hình ảnh hướng dẫn, bản ghi âm, video YouTube. Việc mang lại cho bạn sự nhịp nhàng và bình tĩnh trong hơi thở có thể giúp bạn tiếp cận vấn đề từ trạng thái ổn định, tạo điều kiện cho việc ra quyết định hợp lý và hiệu quả hơn (Megan, 2016).

Những kỹ thuật này có thể giúp những người đang chịu đựng các bệnh tinh thần và phiền muộn ở các mức độ bao gồm lo âu, trầm cảm, rối loạn ám ảnh cưỡng chế và rối loạn hoảng sợ, và những kĩ thuật này có thể được thực hiện khi có hoặc không có sự hướng dẫn của nhà trị liệu. Hãy thử một số các kỹ thuật này mà không cần sự giúp đỡ của nhà trị liệu. Và hãy xem bản ghi chép và tài liệu hướng dẫn để thực hành ở phần tiếp theo.

Nguồn: positivepsychology
Lược dịch: The Givers Team
Biên tập: The Givers Team

Đăng trong Therapy

Liệu Pháp Nhận Thức Hành Vi (Kỳ I) – CBT Là Gì Và Những Biến Dạng Nhận Thức

Chắc chắn bạn đã từng nghe về Liệu pháp Nhận thức – Hành vi. Bạn có lẽ không biết hoặc không hiểu ngay về ý nghĩa 3 từ viết tắt này, nhưng ít nhất bạn cũng từng một lần nghe về CBT (Cognitive Behavior Therapy).

Nếu bạn đã từng tương tác với chuyên gia trị liệu, tham vấn viên hoặc một bác sĩ lâm sàng trong môi trường chuyên nghiệp, bạn có thể đã góp phần của mình vào tiến trình CBT. Hoặc nếu bạn đã từng nghe bạn bè, người thân nói về cách thức mà chuyên gia sức khỏe tâm thần đã giúp họ nhận ra những nỗi sợ hãi hoặc nguyên nhân gây ra đau khổ sau đó giúp họ dần dần thay đổi hành vi để họ làm việc hiệu quả hơn, đạt được mục tiêu của bản thân tức là bạn đã được nghe nói về tác động của CBT.

Liệu pháp Nhận thức – Hành vi là một trong những liệu pháp tâm lý trị liệu thường được các nhà tâm lý học sử dụng. Nó dựa trên một ý tưởng khá đơn giản, nhưng khi đưa vào thực tế nó có các kết quả rất tích cực.

Chuỗi bài viết Liệu pháp Nhận thức – Hành vi bao gồm những nội dung sau đây:

  • CBT là gì?
  • Những biến dạng nhận thức 
  • 9 kỹ thuật và công vụ thiết yếu trong CBT
  • Bản ghi chép liệu pháp Nhận thức – Hành vi để in và sử dụng
  • Một vài can thiệp bằng CBT và các bài tập 
  • Sổ tay CBT và sách bài tập cho việc thực hành + thân chủ của bạn
  • 5 hoạt động cuối cùng của nhận thức hành vi
  • Thông điệp chính
  • Tài liệu tham khảo

Liệu pháp Nhận thứcHành vi là gì?

Mục đích của liệu pháp Nhận thức – Hành vi nhằm thay đổi cách suy nghĩ, niềm tin có thể chính ta biết hoặc không biết mình có, thái độ và hành vi của bản thân để giúp chúng ta đối mặt những khó khăn và phấn đấu hiệu quả hơn với mục tiêu.  

Đọc tiếp “Liệu Pháp Nhận Thức Hành Vi (Kỳ I) – CBT Là Gì Và Những Biến Dạng Nhận Thức”